|
|
|
|
|
23-07-2009
VW/Porsche sát nhập lại
Tổng giám đốc quản trị (từ 1993) hãng xe thể thao Porsche SE nổi tiếng tại Stuttgart, ông Wendelin Wiedeking (56 tuổi) và vị trưởng phòng tài chính là Holger Härter (53) sau nhiều tháng tranh giành ảnh hưởng lèo lái tổ hợp xe Porsche trong tương lai cạnh tranh ráo riết với hãng mẹ là tập đoàn Volkswagen AG (VW trên Wolfsburg), trong hôm 23-7 qua đã phải khăn gói rút lui trước quyền lực can thiệp tối cao của vị chủ tịch Hội đồng quản trị VW hiện nay là ông Ferdinand Piëch (72 tuổi).
Sau phiên họp nội bộ kéo dài tại Weissach/Stuttgart đến sáng hôm 23-7, nguồn tin đã được cấp chủ quản và kiểm soát Porsche chính thức xác nhận: Wiedeking nhận 50 triệu Euro bồi khoản kết thúc sớm hợp đồng cho tới năm 2012 mà ½ số tiền sẽ được quyên tặng lại cho một công quỹ xã hội và Härter được 12,5 triệu Euro. Cả hai xác nhận lí do rời khỏi nhiệm sở vì muốn giải quyết ổn thoả mâu thuẫn giữa Porsche và VW còn đang tranh chấp. Thay thế Wiedeking sẽ là ông Michael Macht, trưởng phòng sản xuất và vị phó đại diện sẽ là Thomas Edig, giám đốc phòng nhân sự hiện nay. Wiedeking và Härter đồng thời cũng rời khỏi các chức vụ kiểm soát quản trị trong VW và Audi.
Porsche SE với tham vọng muốn mua lại 51% cổ phiếu VW đưa đến hệ quả bị thâm thủng tài chính phải vay hàng chục tỉ Euro nợ trước kia còn sẽ được VW tăng vốn đầu tư thêm 5 tỉ và cùng lúc sẽ mở rộng sự hợp tác tài chính với tiểu Vương quốc dầu hoả Emirat Katar để giải quyết khủng hoảng. Emirat Katar dự trù sẽ chiếm giữ cho đến 19% cổ phiếu của tập đoàn VW/Porsche sau thời sát nhập. Màn tranh chấp với xếp lớn Ferdinand Piëch như thế đã được Porsche dọn đường để có thể kết hợp làm ăn lâu dài với Volkswagen.
Ông Wolfgang Porsche, chủ tịch hội đồng quản trị Porsche, người từng hậu thuẫn cho Wiedeking ghi nhận sự kiện sẽ mang lại khả năng phát triển thuận lợi cho Porsche vì „mọi sự đã tốt đẹp“. Thống đốc Christian Wulff (CDU, Niedersachsen, tiểu bang có phần hùn và hưởng đặc quyền can thiệp trong các quyết định sát nhập của VW theo luật định) kêu gọi mọi phía nên „nhìn về phía trước“. Wiedeking theo ông cũng đã sớm nhận ra sự hợp lí trong kỹ nghệ khi tìm cách mua lại đa số cổ phiếu VW dù bất thành. Porsche qua đó vẫn giữ được tư thế độc lập với tổng hành dinh tại Stuttgart-Zuffenhausen, tương tự như Audi tại Ingoldstadt. Các vị trí sản xuất hiệu xe Porsche như thế đã ổn định hơn trước đây, còn theo lời cam kết của Wulff.
Đại diện ban quản trị công nhân VW, ông Bernd Osterloh chờ đợi một hình thức hỗ tương trong kỹ nghệ và tài chính chung giữa VW và Porsche hầu mang lại lợi nhuận cho cả công nhân hai phía. Đại diện phía công nhân Porsche ông Uwe Hück, người từng tranh đấu cho quyền lãnh đạo tiếp tục của Wiedeking hiện chưa lên tiếng.
Tại Stuttgart, ban hội đồng trị sự VW đứng đầu là Piëch và Wulff còn sẽ nhóm họp tiếp về biện pháp sát nhập Porsche trong tương lai.
Piëch, cựu tổng giám đốc VW trước kia (từ 1993-2002), còn là chủ tịch Hội đồng quản trị tối cao hiện nay, được xem là người giật dây hạ bệ Wiedeking trong biện pháp thay đổi nhân sự chủ chốt, như ông đã tài tình sử dụng quyền hạn rất khéo léo trong vụ việc đưa Martin Winterkorn lên thay thế vị cựu giám đốc VW trước kia còn là Bernd Pischetsrieder.
Piëch đồng thời còn là một trong số chủ nhân có phần hùn và quyết định quan trọng về đường hướng phát triển Porsche tại Stuttgart. Ông và chủ tịch hội đồng quản trị Wolfgang Porsche còn là họ hàng, cháu nhà chế tạo xe hơi Đức tiên phong Ferdinand Porsche (1875-1951) với kiểu xe VW Käfer nổi tiếng vào đầu thế kỉ 20.
|
|
|
|
23-7-2009
Kinh tế: khủng hoảng đè bẹp giới trẻ
Sĩ số nơi huấn nghệ co cụm, và ngay cả khi đã học xong tay nghề thì việc tìm ra chỗ làm cũng rất gian nan vất vả. Hiện trạng theo nghiên cứu mới nhất được Tổng công đoàn Lao động Đức DGB (Deutscher Gewerkschaftsbund) công bố hôm 22-7 qua cho thấy giới trẻ dưới 24 tuổi là nạn nhân chịu thiệt hại nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính hiện nay tại Đức.
Báo „Frankfurter Rundschau“ dựa số liệu DGB đưa tin nạn thất nghiệp nơi người trẻ trong độ tuổi 18-24, từ tháng 5-2008 cho đến 5-2009 đã tăng thêm +16%, cao gấp 3x các lứa tuổi lao động khác (bình quân chỉ là 5,3%). Dữ kiện từ Tổng cục lao động liên bang BA (Bundesagentur für Arbeit) theo DGB còn ghi chú là người trẻ thường đã vấp phải khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp sau khi huấn nghệ. Họ thường không được nơi đào tạo thu nhận hoặc chỉ làm tiếp theo hợp đồng ngắn hạn ở các công việc thuê bao (Leiharbeit). Giới chủ nhân xí nghiệp còn đã cố tách rời những ai trực thuộc mà luật lệ lao động chưa thể bao che lâu dài.
Qua tiến trình khủng hoảng kinh tế, sĩ số nơi huấn nghệ -theo DGB- cũng đã co cụm, có thể ít thêm (-50 ngàn) xuống còn 570 ngàn chỗ trong năm nay so cùng thời điểm 2008. Bà Annelie Buntenbach thuộc Hội đồng chỉ đạo DGB cho hay phe chủ nhân phải có trách nhiệm nỗ lực giải quyết sự thiếu hụt này để ít ra cũng không tắc trách với những gì đã qui ước trước kia trong thoả hiệp liên đới vì sự huấn nghệ (Ausbildungspakt). Theo bà, để cải thiện tình trạng, chính giới giáo dục các tiểu bang còn phải đưa ra kế sách cụ thể nhằm bớt đi ½ sĩ số vụ giới trẻ nghỉ học ngang tìm nơi huấn nghệ như hiện nay.
Nạn thất nghiệp nơi giới trẻ theo DGB cũng đã khác biệt nơi thành phần nam nữ dưới 24 tuổi: thanh niên tìm việc tăng thêm 26% trong lúc thanh nữ chỉ là 2,8%. Lí do theo các nhà phân tích là nam giới thường đã lao động trong các xí nghiệp ngành nghề thuộc diện kĩ nghệ gặp khó khăn xuất cảng hàng hoá hiện nay.
|
|
|
|
23-7-2009
Phía Đông bất mãn và chống đối ngoại kiều
Tại các tiểu bang miền Đông nước Đức, tuy ít sĩ số cư dân ngoại kiều sang lập nghiệp, nhưng nạn kì thị chủng tộc vẫn trên đà bộc phát. Thêm vào đó là yếu tố có đến 23% dân chúng còn cảm nhận bị thua thiệt sau 20 năm thay đổi thể chế chính quyền dân chủ.
Hôm 20-7, ông Gunnar Winkler, chủ tịch Hiệp hội thiện nguyện xã hội miền Đông VS (Die Volkssolidarität, là một tổ chức cứu tế có mạng lưới hoạt động từ 1945, dấn thân giúp đỡ thành phần yếu kém trong xã hội CS Đông Đức trước kia), đã cho hay kết quả cuộc thăm dò dân luận được uỷ nhiệm cho Trung tâm nghiên cứu khoa học-xã hội Berlin-Brandenburg thực hiện trong gần 1000 người đủ mọi thành phần dân chúng miền Đông.
Cuộc thăm dò mang tên „Tầm nhìn của người Miền Đông về 20 năm Cách mạng ôn hoà“ cho thấy trên 1/3 tất cả dân chúng nơi đây đã kì thị ngoại kiều. 40% người được hỏi tỏ thái độ tiêu cực trước tỉ lệ chỉ có 2% cư dân là người nước ngoài đang lập nghiệp chung quanh. Nguyên nhân theo Winkler là dân chúng trong thời DDR (CS Đông Đức) đã „không quen thuộc sự chung sống với ngoại kiều“ và vì thế có thể sao chụp lại thành kiến bài bác người nước ngoài một cách dễ dàng.
Theo VS cũng chỉ có 11% dân chúng Đông Đức hài lòng với nền dân chủ mặc dù có đến 67% đánh giá cao giá trị của nó. 7% khác chấp nhận ảnh hưởng chính trị từ thể chế hiện hành. 57% còn cho là quyết định trực tiếp nơi người dân sẽ có thể thay đổi tốt hơn mặc dù kinh nghiệm đầu phiếu (trong thời Đông Đức) xem nhân dân là chủ đất nước giả hiệu vẫn còn ám ảnh họ.
Winkler cho thấy niềm tin vào các hứa hẹn chính trị từ 1989 đã giảm mất. Mùa Thu 1989 theo ông còn là cao điểm tạo ảnh hưởng sâu rộng mà hiện nay phản ứng chống đối giữa chờ đợi và thực tế trong nền dân chủ ngày càng mang sức ép.
Tuy nhiên sau 20 năm cách mạng ôn hoà, nhìn chung có đến 38% dân chúng phía Đông nhìn nhận họ đã thắng lợi. 18% xem sự thống nhất hai miền là lợi điểm. 20% ghi nhận sự kiện thành tựu nhiều hơn là mất mát. 23% nghĩ là bị thua thiệt và 30% khác cho là được-mất đều bằng nhau sau tiến trình thay đổi đất nước.
Đa số dân chúng miền Đông theo sự thăm dò còn đã mang cảm nhận là công dân hạng hai, không vì lí do bất mãn mà đi từ sự thất vọng trong chờ đợi có thể tự sang bằng được mức sống còn chênh lệch giữa đông-tây hai miền, nên theo Winkler, dân chúng không hoặc chưa thấy họ được „hội nhập đủ để trở thành công dân liên bang“. Tình huống kinh tế khủng hoảng, vị trí xã hội xuống cấp cũng như tương lai mù mịt còn đã ảnh hưởng đến thái độ trong sự thăm dò.
Gần 1/3 người được hỏi trên 35 tuổi nhận xét đời sống họ trong thời Đông Đức được công nhận, 1/3 khác xem là chỉ được công nhận một phần nào đó. 10% chờ đợi trở lại thời DDR. 26% người mất việc và 24% người có việc làm bấp bênh thích sống trong chế độ cũ. Ngược lại có 25% dân chúng tại các tiểu bang miền Đông hãnh diện đã trở thành công dân CHLB Đức đúng nghĩa nhất.
20 năm sau cuộc đổi đời, gần ½ dân chúng miền Đông cho thấy sự hồ hởi: 40% đã tỏ sự „hài lòng“ và 4% „rất hài lòng“. Sau năm 1990 tình trạng lạc quan tin tưởng dâng cao nhưng cũng từ đó, chiều hướng cũng đi xuống: hồi 1989 có gần 40% người được thăm dò cho là kinh tế phát triển tốt, nhưng vào 2009 chỉ còn lại 32%. Theo ông Winkler, chính quyền Berlin với biện pháp tài trợ làm ngắn hạn (Kurzarbeitergeld) hoặc tuyên bố tăng lương hưu trí còn đã được dân chúng miền Đông tán thưởng.
|
|
|
|
23-7-2009
Bớt điện máy móc, tủ lạnh và ti vi nhà
Theo định chuẩn mới về mức độ tiêu hao năng lượng dành cho tủ lạnh, ti vi, kể cả máy móc kỹ nghệ và các dàn máy bơm cho lò sưởi và đun nóng tư gia, đặc trách sự vụ Năng lượng khối EU, ông Andris Piebalgs cho hay kể từ tháng 8 năm 2010 tới đây, từng bước biện pháp ấn định mức tiêu hao điện sẽ được ban hành cho giới sản xuất, để kể từ năm 2020 trở đi, Brüssel tính sẽ đạt mục tiêu tiết kiệm được mỗi năm 19 Terawatt/giờ điện lượng, tương đương mức xài chung hiện nay của 2 nước Thuỵ Điển và Áo nhập lại.
Mỗi cái Ti vi bán ra trên thị trường từ tháng 8 năm 2010 trở đi chỉ được hao điện tối đa mức trung bình hiện nay và từ tháng 4 năm 2012 còn sẽ giảm thêm 20% mức hiện nay. Mức ấn định các kiểu khác nhau còn tuỳ ở độ lớn màn hình và dần dà cho tới tháng 8-2011 còn bị qui chế cả mức tốn điện Standby (trong lúc ghim dây nhưng không mở máy).
Tủ lạnh và các loại tủ đông đá kể từ tháng 7-2010 cũng bị kiềm chế mức điện dùng trong 4 năm tới. Các loại hao năng lượng từ dạng „B“ cho tới „G“ sẽ biến khỏi thị trường, kể cả dạng „A“. Thay vào đó là các nhãn hiệu „A+“ hoặc tốt hơn nữa.
Các loại bóng đèn cổ điển như điều lệ EU ban hành, kể từ tháng 9 tới cũng sẽ bị thu hồi trên thị trường.
Piebalgs cũng đưa ra định chuẩn tiết kiệm điện nhiều hơn cho các dàn máy điện bơm hơi nóng lò sưởi cũng như đun nước nóng trong nhà đề từ đó trên thị trường sẽ chỉ còn lại các loại máy tối tân „thông minh“ thích ứng với nhu cầu sử dụng nhiều hơn. Ông xem đó là bước nhảy vọt đạt mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu năng hơn đồng thời bảo vệ bầu khí quyển cũng như hỗ trợ việc tăng trưởng trong kinh tế.
Tại Đức, tổ chức bảo vệ Thiên nhiên và Môi sinh BUND tuy nhiên đã lên tiếng chỉ trích Berlin dùng dằng không gây áp lực lên Brüssel để có thể ứng dụng ngay định chuẩn dùng máy móc tốt nhất đang có trên thương trường làm mẫu mực ngay trong năm tới. BUND dù vậy cũng đã khen „các điều lệ mới trong mọi trường hợp là một sự cải thiện“.
|
|
|
|
23-7-2009
Ver.di cảnh giá sự hồ hởi quá sớm về phục hồi kinh tế
Ông Frank Bsirske, chủ tịch nghiệp đoàn Truyền thông-Phục vụ công cộng ver.di (Die Vereinte Dienstleistungsgewerkschaft) hôm 23-7 qua đã lên tiếng cảnh giác không khí hồ hởi quá sớm về triển vọng phục hồi kinh tế Đức sau một vài số liệu được công bố. Khí thế này theo ông có vẽ vui hơn thực trạng và là điều làm ông ngạc nhiên! Trong báo „Passauer Neuen Presse“, Bsirske ghi nhận „tình thế năm 2010 còn sẽ tồi tệ nhiều hơn 2009“. Ông không tin là đã có thể sớm ra khỏi sự khủng hoảng, chờ đợi nó còn sẽ xảy ra, gây thêm tan nát trên thị trường nhân dụng. Đà tăng trưởng sau khi tuột dốc có thể đã hết rơi nhưng đang bay đều ở mức độ thấp, còn theo nhận xét Bsirske .
Bsirske tiên đoàn sau mùa bầu cử Quốc hội liên bang (tháng 9-2009), sự lao động ngắn hạn (Kurzarbeit) trong nhiều trường hợp hiện nay còn sẽ biến dạng thành sự sa thải ồ ạt, và nạn thất nghiệp leo thang là hệ quả tất nhiên phải tới.
Theo quan sát, ông cho là „bên HK các nhà kinh tế học đã tính đến sau một thời gian dài bị khủng hoảng như hiện tượng đang xảy ra, người ta cần 11 năm sau đó mới có thể vươn lên lại“. Ông cũng cảnh giác chính giới Berlin đừng quá vội khi đưa ra các biện pháp cắt giảm để cân bằng ngân sách thâm thủng mà điều cần hơn hết là nên ban hành tiếp một chương trình tài trợ thứ ba nhằm hỗ tương sức tăng trưởng kinh tế.
Bà Helga Schwitzer thuộc Hội đồng trị sự nghiệp đoàn Kim khí IG Metall còn đi xa hơn trong nhận định cho là „phe chủ nhân hiện chỉ dừng tay ở biện pháp sa thải ồ ạt trước cuộc đầu phiếu liên bang hôm 27 tháng 9 tới đây vì lí do chính trị“. Vì trước kia hồi năm 2005, theo bà ghi nhận từng xảy ra biện pháp đuổi việc hàng chục ngàn người ngay sau ngày bầu cử!
Cùng lúc, ông Werner Schnappauf, vị quản nhiệm chính của Tổng hội Kỹ nghệ Đức BDI (Bundesverband der Deutschen Industrie e. V) cho hay để thích ứng với vốn liếng đầu tư, BDI chờ đợi sẽ bớt đi hàng chục ngàn nhân sự. Chỉ riêng ngành xây cất, trung bình trong năm theo ông ngành này đã bớt đi 2,5% nhân lực xuống còn 688 ngàn người. Schnappauf cho hay đà tuột dốc ít nhiều đã tận đáy nhưng không nên xem đó là điều phấn khởi vì theo phân tích BDI, tình trạng sau đó „không chỉ bớt đi sĩ số nhân lực, mà vốn đầu tư cũng sẽ giảm thiểu“ hơn trước.
Theo tường trình tăng trưởng BDI cho mùa hè 2009, một bức tranh đen tối còn hiện ra: bên cạnh ngành chế tạo máy móc công nghiệp nặng, kỹ nghệ xe, điện khí, kể cả kỹ nghệ đúc khuôn còn đang chịu ảnh hưởng tai hại. Ngành kỹ nghệ hoá chất đã có sự phục hồi ít từ tháng hai. Kỹ nghệ thép đã phục hồi được 60% trong quý II đơn đặt hàng so với quý I. Trong kỹ nghệ chế tạo đồ sắt thép thì tình trạng giậm chân còn đang duy trì!
Kì nghệ Kim loại và Điện khí (Metall- und Elektroindustrie), theo ông Martin Kannegiesser, chủ tịch Tổng hội chủ nhân Gesamtmetall, lần đầu tiên từ sau thời chiến tranh cho tới nay đang hướng về một năm sản xuất bị thua lỗ. Nếu trong năm 2007, con số chỉ là 7% thì hiện nay theo ông nhiều xí nghiệp từ sự khủng hoảng phục hồi đã trở nên bị khủng hoảng cấu trúc, qua đó phe chủ nhân còn đã tính đến biện pháp bớt người và công việc.
|
|
|
|
23-7-2009
DIW nêu đề nghị tăng thuế tư sản
Các ti sở thuế vụ nhà nước Đức sẽ thu được thêm gần 25 tỉ Euro trong năm một khi áp dụng việc đánh thuế tư sản. Đề nghị đã được ông Stefan Bach thuộc Viện nghiên cứu Kinh tế Đức DIW (Deutsches Institut für Wirtschaftsforschung) nêu ra hôm 22-7 mới đây trong tờ thời báo kinh tế „Financial Times Deutschland“. Theo nghiên cứu DIW, Berlin chỉ cần nâng cấp thuế tư sản lên mức bình quân của khối các nước EU và các quốc gia kỹ nghệ hàng đầu trên thế giới.
Bach đề nghị qua đó cần tăng thuế cơ bản („Grundsteuer“) và ứng dụng lại thuế tư sản („Vermögensteuer“) bị đình chỉ từ 1997. Thuế vụ loại này theo DIW cũng chỉ chiếm 0,9% tổng sản lượng kinh tế quốc dân, và điều này chưa bằng ½ mức bình quân tại các nước kỹ nghệ tiên tiến quan trọng. Bên Anh trên 4%, tại Pháp và HK trên 3%, còn theo dẫn chứng Bach.
DIW dẫn chứng và yêu cầu nên có sự cải tổ luật thuế Grundsteuer có từ 1964 tại phía Tây và từ 1935 tại miền Đông. Mức độ tính thuế này đã quá thấp, hiện chỉ tương đương mỗi năm là 0,12% (tư gia) và là 0,17% (chung cư) giá nhà cửa đất đai trên thị trường.
Ông Bach còn xem đó là một loại thuế địa phương mang tính hiệu năng tốt cho tài khoá làng xã. Nhưng khi tăng mức thuế này lên rõ rệt thì gánh nặng lại bị san sẻ đến tay người thuê bao phòng ốc nhà cửa mà thành phần yếu kém bao giờ cũng bị thiệt thòi. Một sự cân bằng xã hội sẽ đặt ra nơi thành phần có tiền cần bị trả thuế tư sản. Chỉ cần thu 1% loại thuế này (miễn cho tài sản nào dưới ½ triệu Euro), ngân quỹ Berlin theo Bach sẽ có thêm từ 16-21 tỉ Euro/năm. Ông còn nêu vấn đề xét lại luật đánh thuế thụ hưởng gia sản („Erbschaftsteuer) mà trong chính sách cải tổ vừa qua, chính giới Berlin đã đi ngược hướng khi ưu tiên giảm thuế cho kẻ thừa hưởng xí nghiệp cũng như bất động sản cha truyền con nối!
|
|
|
|
 |
|
|
 |
|