|
Về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Phan Văn Khải
Không có bột thì không thể quấy thành hồ
Mấy tuần nay báo chí nhà nước CSVN đã đề cao chuyến viếng thăm Hoa Kỳ sắp tới của thủ tướng CSVN Phan Văn Khải là chuyến đi lịch sử. Lộng ngôn quá chăng? Việc ông thủ tướng Willy Brandt của Đức quỳ gối trước đài tưởng niệm cuộc nổi dậy của Ghetto Do Thái ở Warschau vào năm 1970 để xin lỗi cho những tội ác của Đức Quốc Xã trong thời Đệ nhị Thế chiến ở Ba Lan là một sự kiện lịch sử. Một sự kiện lịch sử lớn. Ngay trong lúc đó và cho nhiều thế hệ sau. Đối với Ba Lan, Đức, Âu Châu và toàn thế giới. Mở đầu việc chấm dứt phân cách Đông-Tây và chiến tranh lạnh. Chính Brandt không bao giờ tự đề cao hành động này của mình. Để cho dư luận tại những nước liên hệ đánh giá hành động của mình sẽ hay hơn, khiêm nhường hơn. Khi đạt lời mời của Bush đến Khải, thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Zoellig chỉ xem chuyện một ông thủ tướng CSVN viếng thăm Hoa Kỳ - sau 30 năm chấm dứt chiến tranh và 10 năm bình thường hoá bang giao - là có ý nghĩa. Có ý nghĩa thế thôi. Cũng có một ý nghĩa thâm trầm là việc tổng thống Bush mời thủ tướng mà không mời tổng bí thư Đảng CSVN sang thăm Hoa Kỳ trước tiên – khác lề thói o bế một cơ chế độc tài đảng trị của tổng thống Pháp Chirac hoặc thủ tướng Đức Schröder. Trong một nước dân chủ, chủ tịch của một đảng không thể có quyền hành hơn một thủ tướng. Bush có thể trao đổi về những ước mơ nhưng không muốn bàn công việc điều hành quốc gia với một chủ tịch đảng. Nhưng ông Phan Văn Khải sang Mĩ để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để “tiếp xúc thường xuyên” với tổng thống Mĩ để tạo niềm tin, theo như lời thứ trưởng CSVN Lê Văn Bàng sau chuyến đi dọn đường cho ông Khải hồi tháng Tư năm nay? Nếu chỉ để thường xuyên tạo niềm tin thì không có ý nghĩa lịch sử đột phá. Người ta không khỏi có cảm tưởng rằng bộ máy tuyên truyền CSVN đang tìm một ý nghĩa cho chuyến đi của ông Khải.
Chính quyền CSVN đã rất lúng túng trong việc tìm một vấn đề có tầm vóc để cho ông Khải giải quyết ở Mĩ. Một vấn đề lịch sử, kinh tế, quốc phòng, an ninh hay nhân quyền? Theo lời của Thứ trưởng ngoại giao CSVN Lê Văn Bàng hồi giữa tháng Tư thì ban đầu họ dự định để cho ông Khải tuyên bố kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ về việc gia nhập Tổ chức Thương Mãi Thế giới WTO. Việc gia nhập WTO là dự án lớn nhất của chính quyền CSVN về kinh tế đối ngoại. Một dự án lấy le. Do đó các nhà lãnh đạo CSVN đã lớn tiếng tuyên bố rằng Việt nam sẽ gia nhập WTO vào đầu năm 2005 - bất kể thực tế VN, mặc kệ kinh nghiệm của các nước khác. Sau khi gặp nhiều khó khăn đàm phán, họ lại dời thời điểm vào cuối năm 2005. Hiện nay người ta chưa biết liệu Việt Nam có gia nhập được vào WTO trong năm 2006 hay không. Theo thứ trưởng ngoại giao Mĩ Zoellig tuyên bố hồi đầu tháng Năm tại Hà Nội thì Việt nam sẽ không kịp kí kết hiệp định song phương về WTO với Hoa Kỳ nhân dịp ông Khải sang Mĩ. Muốn đặt được một hiệp định đa phương với tất cả các quốc gia thành viên của WTO, CSVN sẽ còn phải thay đổi đến 89 văn bản luật! Sự chậm trễ gia nhập WTO đã gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế VN, một nền kinh tế èo uột luôn chịu thua thiệt vì những quyết định chính trị sai lầm của đảng CSVN. Một lí do gây ra chậm trễ gia nhập WTO là quyết định trì hoãn kí kết Hiệp định Thương mãi Song phương với Hoa Kỳ vào năm 2001 để nhường bước cho đàn anh Trung Quốc đi trước. Vì nhường cho Trung Quốc đi trước nên Việt Nam hiện rất vất vả đàm phán song phương với Trung Quốc để gia nhập WTO. Ngoài ra những hàng xuất cảng của Việt Nam khó cạnh tranh với hàng Trung Quốc vì phải chịu hạn ngạch của những thị trường lớn như Hoa Kỳ hoặc EU.
Một vấn đề được chính phủ Bush đặc biệt lưu ý trở lại trong nhiệm kì hai là vấn đề nhân quyền và tôn giáo. Trước đây vấn đề này không mấy được quan tâm trong quan hệ hai nước nhưng từ khi quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật tự do tôn giáo quốc tế và từ khi Việt nam bị xếp vào danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tự do tôn giáo (CPC) vào tháng Chín năm ngoái thì vấn đề trở thành nóng trong dư luận tại Hoa Kỳ và trên thế giới. Trước đây chính quyền CSVN đã chủ quan xem thường vấn đề này, cho rằng chỉ cần thoả mãn các nước tư bản bằng con đường giao thương thì có thể bịt miệng họ về vấn đề nhân quyền. Việc hối hả đưa ra Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo, Nghị định 22 để thi hành pháp lệnh này cũng như Chỉ thị cấm bắt buộc bỏ đạo Tin lành của thủ tướng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi kỉ lục cho thấy sự lúng túng đối phó với một tình thế bất ngờ. Hồi tháng Năm, Việt Nam đã phải kí kết với Hoa Kỳ một thoả hiệp về tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã nhượng bộ bằng cách đưa ra nhiều văn bản pháp luật để cải thiện quyền tự do tôn giáo. Nhưng Hoa Kỳ hiện chưa rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC và đang chờ xem sự thi hành của chính quyền CSVN. Trên thực tế, việc tiến hành cho các tổ chức tôn giáo đăng kí tư cách pháp nhân hoặc đăng kí hoạt động ở Việt Nam theo những qui định mới đã diễn ra rất chậm chạp, nếu không nói là không khác thời kì trước. Ngoài ra những hành vi đàn áp tôn giáo và bắt bỏ đạo vẫn tiếp tục diễn ra. Thậm chí một số UBND và công an địa phương còn công khai phủ nhận quyền hạn của thủ tướng và không chịu thi hành chỉ thị của thủ tướng. Có nơi nói là họ thi hành theo chỉ thị của một cấp cao hơn thủ tướng. Có nơi còn thách thức sẽ bắt giam cả thủ tướng nếu ông không làm theo đúng thủ tục đăng kí với địa phương. Những đàn áp này đã diễn ra khắp 3 miền, từ thôn quê đến thành thị, từ đồng bằng đến vùng núi của người thiểu số. Vấn đề nan giải cho ông Khải là ông biết rõ những vụ đàn áp này. Xã hội dân sự ở Hoa Kỳ sẽ có đủ bằng chứng xác thực để chất vấn ông Khải về vấn đề này. Dù ông Khải có bao che, dù ông có bất lực thì ông cũng sẽ khó trả lời cho xuôi vấn đề. Nếu nhìn nhận sự bất lực nghĩa là không đủ sức thực hiện điều đã hứa thì ông Khải sẽ không có đủ uy tín của một nguyên thủ để đàm phán với tổng thống Hoa Kỳ. Nếu chấp nhận sự bao che cho thuộc hạ làm bậy thì ai còn dám tin những điều mà ông đã kí kết.
Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều người tị nạn Việt Nam nhất sau biến cố 30 tháng Tư 1975. Cộng đồng tị nạn Việt Nam ở Hoa Kỳ - nay là cộng đồng người Mĩ gốc Việt – thành công trên nhiều mặt và ngày càng có nhiều ảnh hưởng trên chính sách của Hoa Kỳ. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam hồi tháng 11 năm 2000, tổng thống Clinton khuyến cáo chính quyền CSVN nên hoà giải với cộng đồng người Mĩ gốc Việt. Thứ trưởng ngoại giao CSVN Lê Văn Bàng hồi tháng Tư 2005 cũng xem việc xây dựng một mối quan hệ tốt với cộng đồng người Việt tại Mĩ là một vấn đề đặc biệt quan trọng vì “chúng ta (CSVN) cần sự hỗ trợ của cộng đồng này trong quan hệ hai nước theo chiều hướng tích cực hơn”. Vì trước đây ông Bàng từng là đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ nên ông biết rõ điều ông muốn nói. CSVN không thể chỉ hoà giải với Mĩ mà không hoà giải với những đồng bào của họ. Nhưng theo những tin tức mới, lần này ông Khải sẽ không đến thăm tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất tại Hoa Kỳ. Có lẽ ông Khải e ngại những cuộc biểu tình phản đối. Thế nhưng dù ở Washington hay New York nơi nào cũng có người Việt tị nạn và do đó có biểu tình. Ông Khải sẽ không tránh khỏi việc phải đối diện với tâm tư và nguyện vọng của người Mỹ gốc Việt. Nếu tránh họ trên đường phố thì ông vẫn phải đối diện với họ trong quan hệ ngoại giao giữa 2 nước, chẳng hạn qua những đạo luật nhân quyền Việt Nam và danh sách CPC. Ông sẽ giải quyết vấn đề này ra sao? Cho đến nay đảng CS của ông không thực tâm muốn hoá giải hận thù. Tiếng nói của cựu thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt cho đến nay vẫn quá lẻ loi, lẻ loi đến nỗi cuối cùng phải bị cắt xén thành vô nghĩa trên báo Tuổi Trẻ. Nhân dịp 30 tháng Tư năm nay, ông Kiệt đã kêu gọi các người lãnh đạo CS đừng quá say sưa thành tích mà làm cho vết thương chiến tranh không lành được. Kiệt phê bình rằng “nhắc lại (các chiến tích) quá mức thì có thể gây ra sự phản cảm”. Vào năm 2004, Bô chính trị đã đưa ra Nghị quyết 36 (NQ36) về Việt kiều. NQ36 đang làm gia tăng sự phản cảm. Trong đánh giá một năm thực hiện NQ36 vào hồi đầu tháng Năm, ông Nguyễn Phú Bình, thứ trưởng ngoại giao và hiện là chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt ở nước ngoài, vẫn kêu gọi “đấu tranh ngăn chặn những hoạt động chống phá của các nhóm người Việt cực đoan”. Cực đoan theo định nghĩa của ông là làm trái với lợi ích chung của dân tộc. Việc định nghĩa vẫn là một độc quyền của đảng CSVN. Chống phá là có những suy nghĩ và việc làm khác với chính sách của đảng. Với một quan điểm căn bản như thế, cuối cùng đảng chỉ muốn lợi dụng kiến thức và tiềm năng kinh tế và chính trị của người Việt ở Mĩ chứ không thực tâm tôn trọng họ. Do đó sẽ không thể có đối thoại và hoà giải thực tâm.
Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của thủ tướng CSVN Phan Văn Khải vào cuối tháng Sáu này có lẽ sẽ không tạo ra những đỉnh cao về nội dung cũng như hình thức cho quan hệ hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ. Một vài buổi tiếp tân mờ nhạt và vài thoả thuận thứ yếu được đem ra kí kết làm trò sẽ không tạo ra được quan tâm cho giới truyền thông quá no tin ở Hoa Kỳ. Những gì được dự định thì đã không thành trong khi những gì cần làm thì có lẽ ông Khải không có đủ can đảm làm. Người ta không thể phủ nhận rằng ông Khải là người có nhiều thiện chí hơn các đầu óc bê tông trong bộ chính trị. Nhưng đến nay ông chỉ làm được một vài việc vụn vặt để giảm sự tác quái của hệ thống công an đàn áp mà không có đảm lược để bứt phóng khỏi cái khuông băng bột của đảng. Nếu quả thật ông Khải muốn đi vào lịch sử thì ông nên có một hành động thành thực và bộc trực tương tự như việc quỳ gối của thủ tướng Brandt năm xưa. Việc làm của Brandt đã thoát ra ngoài mọi dự định chính trị và thủ tục nghi lễ. Có người có đề nghị rất hay là ông Khải nên nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần này để ngỏ lời xin lỗi những nạn nhân của các chính sách sai lầm của CSVN trong quá khứ và cám ơn nước chủ nhà đã cưu mang họ. Làm được thì chuyến đi của ông Khải sẽ có một ý nghĩa lịch sử nho nhỏ nào đó. Điều ông không nên làm là nhai lại điệp khúc “khép lại quá khứ để hướng tới tương lai”, dễ gây phản cảm trong dư luận người Việt tại Hoa Kỳ.
Lý Liễu
|