|
Nhân dịp kỉ niệm 20 năm thống nhất nước Đức
Ngày nghịch lí bị đảo ngược
Suốt tháng 11 nước Đức đã có nhiều chương trình hồi ức về những biến cố của 20 năm trước mà đỉnh cao là sự sụp đổ của Bức tường Ô nhục Bá Linh và việc thống nhất đất nước trong hoà bình. Chàng thanh niên tị nạn Việt Nam ở Đức đã được sống lại những ngày tháng lịch sử với tâm trạng hồi hộp không khác năm xưa. Chàng không khỏi có suy nghĩ so sánh nước Đức với Việt Nam. Sau thế chiến, nước Việt cũng bị chia cắt thành một phần tự do và một phần cộng sản như nước Đức nhưng cuối cùng lại thống nhất một cách hoàn toàn ngược chiều với Đức. Chiến tranh đã chấm dứt nhưng bạo lực đàn áp lại trải rộng khắp đất nước Việt Nam. Vì thế chàng và hàng triệu đồng bào khác đã phải liều chết ra biển Đông. Chàng cám ơn nước Đức đã nhận cưu mang chàng và cho chàng một cuộc sống có nhân phẩm và tự do. Thế nhưng ở Đức thời cuối thập niên 70 đôi lúc chàng vẫn chột dạ khi cảm thấy sự an toàn của chàng thật mong manh. Những kinh nghiệm đau thương trong thời kì chiến tranh Việt Nam khiến chàng tin rằng trước sau gì Tây Đức cũng bị nhuộm đỏ. Sớm muộn gì Đông Đức cũng sẽ xâm lấn Tây Đức. Cho dù đời sống Tây Đức lúc đó có vượt trội hơn Đông Đức về mọi mặt nhưng cuối cùng những nghịch lí cũng sẽ thắng. Dân chủ sẽ thua độc tài. Tự do sẽ thua kìm kẹp. Nhân ái sẽ thua hung ác. Chân chính sẽ thua giả dối. Ôn hoà sẽ thua hiếu chiến.
Nhìn đâu ở Tây Đức chàng cũng như thấy những điều mà chàng đã từng thấy trước đây ở miền Nam. Chàng thấy dân Tây Đức nhát gan và chủ hoà nên đã chọn đi nghĩa vụ dân sự để trốn lính. Nhưng khi biểu tình thì sinh viên, thanh niên, học sinh Tây Đức lại đập phá rất hung hăng. Thời thập niên 60 và 70 họ xuống đường phản đối quan niệm thủ cựu của các thế hệ cha anh, chống chính phủ và chống luôn cả chiến tranh Việt Nam. In sâu vào trí nhớ của chàng là tấm biểu ngữ đòi ‘Mỹ phải cút khỏi Sàigòn, giao Việt Nam lại cho Việt Cộng’ và khẩu hiệu biểu tình ‘Hồ - Hồ - Hồ Chí Minh’. Phong trào đấu tranh thời đó đã sôi sục hẳn lên khi có một lãnh tụ sinh viên bị cảnh sát bắn chết ở Berlin. Mãi về sau người ta mới biết viên cảnh sát này là điệp viên nằm vùng cho Đông Đức. Một số trí thức thiên tả cực đoan đã nhảy ra thành lập Lữ Đoàn Đỏ (RAF) để hoạt động khủng bố. RAF đã ngang nhiên xử tử những người bị họ xem là cột trụ của chế độ tư bản Tây Đức. Chính phủ đã phải ban hành tình trạng khẩn cấp để đối phó với những biến động xã hội. Đến thập niên 80 dân chúng Tây Đức lại rầm rộ biểu tình chống lại việc chính phủ cho Hoa Kỳ đặt hoả tiễn nguyên tử để đề phòng hiểm hoạ xâm lăng của Liên xô. Hẳn nhiên là cộng sản Đông Đức đã giật dây và tài trợ cho các nhóm đối lập khuynh tả để quấy rối hậu phương Tây Đức. Cộng sản Đông Đức đã lợi dụng sự tự do ở Tây Đức để cài điệp viên vào các công sở và hãng xưởng cũng như để lũng đoạn các chính đảng Tây Đức. Năm 1974, thủ tướng Đức Willi Brandt đã phải từ chức sau khi cơ quan phản gián Tây Đức khám phá ra rằng viên bí thư của ông là điệp viên Stasi. Chàng cho rằng chính phủ dân chủ Tây Đức quá mềm yếu. Sau Konrad Adenanuer và Ludwig Erhard, chính phủ Tây Đức đã từ bỏ chủ thuyết phong toả Đông Đức của Hallstein. Giấc mơ thống nhất tưởng không bao giờ đến nữa!
Với cái lô gích dựa trên bạo lực, chàng tị nạn Việt Nam nghĩ Tây Đức tất sẽ phải thua. Nhưng chàng đã lầm: các biến cố xảy ra ở Đông Âu và Đông Đức trong năm 1989 đã đi ngoài cái lô gích này. Chúng đã chấm dứt những điều nghịch lý trong thế giới cộng sản. Tây Đức đã không đổ nhờ có một nền kinh tế thị trường và một nền tảng dân chủ tự do khá vững chắc. Tự do đã giúp Tây Đức có những sáng kiến chính trị và dân chủ là môi trường để chấp nhận những sáng kiến này. Chính sách Ostpolitik do thủ tướng Brandt khởi xướng đã được các chính phủ sau tiếp tục đi theo. Sáng kiến hoà dịu Đông-Tây phát khởi từ một nước Tây Đức chiến bại đã dần dần được cả các cường quốc Tây phương và Liên xô chấp nhận. Chính sách này đã thay đổi thế đối đầu của Âu Châu và thế giới thành thế hợp tác trong hoà bình. Chính sách Ostpolitik và thoả ước Helsinki đã đem lại cho các xã hội dân sự ở Đông Đức khoảng không gian tự do cần thiết để nẩy nở và tự tổ chức. Sức mạnh kinh tế của Tây Đức được dùng làm chìa khoá cho kế hoạch này. Cho nên một chế độ toàn trị cộng sản Đông Đức với một chính sách ngoại giao ương ngạnh đã trở thành cái gai khó chịu trong khối Đông Âu. Về nội trị, bạo lực thô bạo của nòng súng, tù đầy, đàn áp, khủng bố tinh thần đã chỉ làm cho dân chúng Đông Đức thêm chán ghét và bất mãn. Bức tường Bá Linh không thể ngăn được hàng trăm ngàn chuyên viên, trí thức, nghệ sĩ, thợ lành nghề đã bỏ nước đi, để lại sau lưng một nền kinh tế xác xơ. Cuộc bỏ phiếu bằng chân và các cuộc biểu tình đông đảo đòi tự do, dân chủ và đa nguyên của người dân Đông Đức vào cuối năm 1989 đã làm sụp đổ chế độ cộng sản Đông Đức.
Tình trạng Việt Nam hiện nay khá giống những giờ phút cáo chung của cộng sản Đông Đức. Trong những năm cuối Đông Đức đã được nhiều quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ đến nỗi Honecker lầm tưởng vị thế ngoại giao của Đông Đức đang được nâng cao. Nền kinh tế Đông Đức dù sao vẫn là nền kinh tế số một trong khối Comecon nên Đông Đức cũng dồn mọi nỗ lực để thoả mãn nhu cầu tiêu thụ của dân chúng. Đông Đức cũng mở cửa cho dân chúng đi nước ngoài, đi thăm thân nhân, đi đoàn tụ, cho người nước ngoài vào thăm. Đông Đức cũng nới lỏng sự kiểm soát để các nhóm xã hội, môi sinh, yêu thú vật, phản chiến và tôn giáo được hoạt động trong một khuôn khổ nhất định. Nhưng Đông Đức cũng gia tăng bắt giữ, xử án và bỏ tù người dân vì những tội thuộc loại ‘xâm phạm an ninh quốc gia’. Đông Đức nhất định dùng bạo lực của chuyên chính vô sản để không cho người dân tham gia vào công việc nước. Đảng và chính quyền cộng sản Đông Đức sống trong cung đình nên không biết rằng hệ thống nghịch lí của họ đang đụng trần. Trong những ngày cuối cùng, chế độ cộng sản Đông Đức đã hết sức lúng túng đối phó với phong trào biểu tình ôn hoà lan rộng và chính yếu tố này đã đẩy nhanh sự tan rã của chế độ. Những nhượng bộ to lớn về tự do và dân chủ vào phút cuối cùng của đảng cộng sản Đông Đức đã không còn cứu vãn được chế độ nữa.
Ở Việt Nam, cái nghịch lí ‘kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa’ cũng đang đụng trần. Sự phát triển về kinh tế hiện không còn tương ứng với cơ sở chính trị nữa. Sự cởi mở với thế giới đang trái ngược với sự kìm kẹp ở trong nước. Cả các đảng viên cộng sản, cả những người sinh trưởng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa và những người sinh sau năm 1975 cũng thấy và phản đối những điều nghịch lí này. Người dân Việt không còn bằng lòng với sự thoả mãn của dạ dày mà muốn có tự do về tinh thần. Sự phản kháng của nhân dân đã đem lại những thắng lợi đầu tiên. Chính quyền cộng sản nay đã phải chấp nhận bước vào sân chơi thế giới. Đảng cộng sản đã phải giới hạn chính sách bế quan toả cảng, kinh tế chỉ huy, nới rộng quyền hoạt động của các tôn giáo và một số tổ chức xã hội. Nhân dân cũng đang lấn bước hai: tư tưởng, âm nhạc, văn học, nghệ thuật của các nhóm ‘ngoài luồng’ hay từ hải ngoại đưa về đang cạnh tranh gay gắt với nền văn hoá chính thống và độc quyền của cộng sản. Người dân có dịp so sánh giữa những gì họ đã thấy, đã nghe và đã thích. Ngày nay nhiều người đã dùng tên tuổi thật để công khai phê phán những mặt trái của chế độ trên những trang Blog. Họ sẵn sàng liên kết với nhau và bênh vực cho nhau. Nhân dân đang tập sự bước thứ ba: các nhà thờ Thái Hà, tu viện Bát Nhã, dòng Chúa Cứu Thế, những hội thánh Tin Lành tư gia, … đang là nơi tập trung của những người có suy nghĩ độc lập. Sự tập họp từ vài ngàn đến vài trăm ngàn người trong một cuộc biểu tình ở Hà Nội và Quảng Bình không còn ở ngoài tầm tay của các tổ chức tôn giáo hay dân sự nữa. Bước cuối cùng có lẽ sẽ là những cuộc biểu tình tập thể giống như ở Đông Đức hồi cuối năm 1989.
Điều kiện và diễn biến ở Đông Đức và Việt Nam giống nhau đến kì lạ khiến chàng tị nạn nghĩ cái gì xảy ra tại Đông Đức rồi cũng xảy ra tại Việt Nam.Theo lẽ tự nhiên, cuối cùng dân chủ, tự do, nhân ái, công lí sẽ phải thắng. Bài học Đông Đức cho thấy một hệ thống nghịch lí sẽ bị tiêu diệt khi quần chúng hết thờ ơ và quyết đứng lên nắm lại vận mệnh đất nước. Những nghịch lí ở Việt Nam sở dĩ vẫn tồn tại là vì xã hội dân sự Việt Nam đang cần thời gian để ôn luyện phương cách đấu tranh bất bạo động. Cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, công lí, nhân bản trong thời đại mới sẽ không dùng lại các phương tiện của cuộc đấu tranh cũ như dao súng, khủng bố, bạo lực, hận thù nữa. Cuộc đấu tranh này sẽ dùng các phương thức vô cùng ôn hoà nhưng cũng rất phù hợp với tình thế, vừa sáng tạo và đa dạng. Chàng tị nạn mỉm cười khi nghĩ đến ngày mà các nghịch lí Việt Nam bị đảo ngược. Ngày đó những giá trị cao quý sẽ được trả về đúng vị trí của nó.
Lý Liễu
|