ÐCSVN qua những biến động trong phong trào CS Quốc Tế

Nguyễn Minh Cần


ÐCSVN qua thời kỳ biến động lớn thứ hai từ sau đại hội 20 ÐCSLX

Ðoàn đại biểu ÐCSVN (tên chính thức hồi đó là Ðảng lao động Việt Nam) do chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng bí thư Trường Chinh dẫn đầu dự đại hội 20 ÐCSLX. Trong và ngay sau đại hội, đoàn đã nhiệt liệt tán thành những nghị quyết của đại hội 20. Trong cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh Moskva ngày 3.3.1956, Trường Chinh đã đánh giá rất cao đại hội 20 ÐCSLX và bày tỏ sự ủng hộ nồng nhiệt đối với những nghị quyết của đại hội. Ông nói: „Ðại hội lần thứ 20 của ÐCSLX là một cuộc đại hội lịch sử quan trọng nhất từ khi Lenin mất đến nay“ (xem: tạp chí „Học Tập“, số 4, tháng 3.1956, tr.174). Ðánh giá đại hội 20 như thế có nghĩa là ông bày tỏ thái độ mạnh mẽ phê phán thời đại Stalin và dứt khoát tán thành nghị quyết đại hội 20. Nhưng khi về nước, tại hội nghị TƯ ÐCSVN (19-24.4.1956) để nghe báo cáo và bàn về nghị quyết đại hội 20, do tác động của thành phần bảo thủ thân Mao trong bộ chính trị, như Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan... nên thái độ của TƯ ÐCSVN có tính chất lấp lửng, ngoài mặt thì làm ra vẻ ủng hộ đại hội 20, còn bên trong thì không ủng hộ. Lúc đầu, thái độ đó được giấu kín trong phạm vi TƯ biết với nhau thôi, không phổ biến rộng ngay cả cho cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng. Ðiều này tỏ rõ rằng trong nội bộ TƯ hồi đó đang có cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các phe.

Tiếp sau hội nghị TƯ là cuộc hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng (28.4 - 3.5.1956) để nghe báo cáo và nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 ÐCSLX. Ðược ảnh hưởng của tinh thần phê bình trong đại hội 20, hơn nữa bị sức ép của tình trạng căng thẳng trong xã hội miền Bắc hồi đó do những bạo hành trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do sự vi phạm tự do dân chủ của ngành công an, mậu dịch, v.v... nên tại hội nghị cán bộ, lần đầu tiên bộc lộ một thái độ phê phán mạnh mẽ và thẳng thắn những sai lầm trong sự lãnh đạo của đảng. Thậm chí một số cán bộ đã đụng đến những „điều cấm kỵ“, như đã dám phê phán sự sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh, dám nói đến việc lãnh tụ đảng đã tự mình tuyên truyền cho sự sùng bái cá nhân mình. Nhiều ý kiến vạch ra tệ nạn độc tài độc đoán, thói gia trưởng trong đảng. Về mặt đường lối, chính sách thì cán bộ lôi ra những bạo hành trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức , những lộng hành trong quản lý hộ khẩu, quản lý thương nghiệp, v.v... BCT TƯ không lường trước một sự phê phán mạnh mẽ như vậy, nên tại hội nghị, tổng bí thư Trường Chinh đành phải nhận là „cũng đã có hiện tượng sùng bái cá nhân nhưng chưa đến mức trầm trọng“ và hứa sẽ xem xét lại những việc cán bộ đã nói về cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, quản lý hộ khẩu, thương nghiệp, „xử lý“ một số trí thức văn nghệ sĩ...

Chính nhờ tiếng vang của đại hội 20 ÐCSLX, nhờ cuộc đấu tranh nôïi bộ trong đảng mới nhóm lên và sự bất bình của dân chúng đang dâng cao hồi đó (đã bùng nổ những cuộc nổi dậy mãnh liệt của nông dân ở một số nơi, như Quỳnh Lưu, Phát Diệm... đến nỗi ÐCS phải dùng quân đội đàn áp đẵm máu) mà hội nghị lần thứ 10 TƯ ÐCSVN (tháng 9.1956) phải chịu nhận đã phạm những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất. Cố nhiên, như thường lệ người ta nhấn mạnh sai lầm chủ yếu ở khâu thực hiện và cố vớt vát „sai lầm tuy nghiêm trọng, nhưng thắng lợi cải cách ruộng đất vẫn là căn bản“ vì „đã lấy ruộng đất địa chủ chia cho nông dân“! Ðể làm dịu bớt bầu không khí cực kỳ căng thẳng trong dân chúng, tại cuộc mít tinh lớn của nhân dân Hà Nội ở Nhà hát Nhân dân (ở khu Ðấu Xảo cũ), Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT TƯ ÐCSVN thay mặt chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ, chính thức nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất và hứa hẹn „sửa sai“. Do sai lầm trong lãnh đạo cải cách ruộng đất, Trường Chinh mất chức tổng bí thư. Hồ Chí Minh vừa làm chủ tịch đảng, vừa kiêm chức tổng bí thư, nhưng trên thực tế Lê Duẩn, ủy viên thường trực BCT, đã nắm giữ chức vụ đó. Trong việc này có mưu đồ của Lê Ðức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban Tổ chức TƯ, muốn đưa Lê Duẩn lên ngôi vị tổng bí thư, gạt người có uy tín nhất hồi đó là Võ Nguyên Giáp.

Tiếp đó, ở nông thôn miền Bắc, ÐCS đã tiến hành „sửa sai“, còn ở mấy thành phố lớn thì tổ chức những cuộc họp ở khu phố cho dân chúng phê bình công việc của đảng (quản lý hộ khẩu, mậu dịch...). Người ta cũng „loáng thoáng“ hứa hẹn mở rộng dân chủ... Thật ra, „sửa sai“ cải cách ruộng đất là một việc rất phức tạp, dù có thực tâm cũng không thể „sửa“ thật sự được, không thể giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đã bị đảo lộn, cũng như những bi kịch đau thương, những quan hệ tình cảm thương tổn do cải cách ruộng đất gây ra. Cho nên, lời cửa miệng của dân „càng sửa càng sai“ là sự đánh giá hoàn toàn chân thật. Còn những cuộc họp ở khu phố để mở rộng dân chủ lắng nghe ý kiến của dân - chỉ có tính chất hình thức, cho dân nói cho „hả“, hé soupape xả bớt hơi, rồi đâu lại vào đấy, chẳng có ai giải quyết gì, chẳng qua chỉ là cơ hội cho công an dễ dàng theo dõi những ai mạnh dạn „có ý kiến phê bình“ để sau này vào „sổ đen“ trù dập. Ngay như hội nghị Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, họp (tháng 10.1956) đàng hoàng, trang trọng, có đủ mặt „bá quan“, với sự hiện diện của những lãnh tụ của ÐCS, như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Xuân Thủy... cũng thế, họ kêu gọi nhân sĩ, trí thức chân thành góp ý kiến với đảng, nhưng khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường dám thẳng thắn đọc bài diễn văn nổi tiếng „Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo“ để góp ý kiến với ÐCS thì về sau ông bị trả thù, bị tước đoạt tự do và đày đọa suốt đời.

Những sự kiện xảy ra ở Ba Lan và Hungarie (1956) đã làm ban lãnh đạo ÐCSVN lo sợ. Họ quên ngay lời hứa hẹn mở rộng tự do dân chủ khi hội nghị TƯ nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 của ÐCSLX, và ngày càng nghiêng theo chủ nghĩa Mao, ngày càng siết chặt nền „chuyên chính“ để mở đường cho miền Bắc tiến lên „chủ nghĩa xã hội“ theo nghị quyết hội nghị lần thứ 13 của TƯ ÐCSVN (tháng 12.1957).

Hành động „chuyên chính“ ác liệt đầu tiên sau khi ÐCSVN tiếp quản miền Bắc là vụ án văn chương „Nhân Văn - Giai Phẩm“ (viết tắt VNVGP) diễn ra từ cuối năm 1956-1960 và kéo dài mãi về sau nhằm đánh gục trí thức văn nghệ sĩ khi đảng „đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội“. Khi mới trở về Hà Nội sau chiến tranh, nhiều văn nghệ sĩ, trí thức khát khao được tự do sáng tác, được sống và làm việc trong tự do dân chủ, họ đã ra những ấn phẩm mang tên „Giai Phẩm Mùa Xuân“ (1956), „Giai Phẩm Mùa Thu“ tập I và tập II, „Giai Phẩm Mùa Ðông“ (do Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Ðạt, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tý... chủ trương), báo „Trăm Hoa“ (do Nguyễn Bính chủ trương), báo „Ðất Mới“ (do Bùi Quang Ðoài chủ trương), báo „Nhân Văn“ (do Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Trần Duy, Hoàng Cầm... chủ trương) để bày tỏ những khát vọng, giới thiệu những sáng tác của mình, có phần nào khác với đường lối văn nghệ của đảng cầm quyền. BCT TƯ ÐCSVN đã giao cho Trường Chinh, Tố Hữu, v.v... tổ chức một cuộc đàn áp tàn bạo đối với những trí thức, văn nghệ sĩ khao khát tự do. Những ấn phẩm của họ bị tịch thu, bị cấm, báo chí bị đóng cửa, còn những văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều dính dáng đến VNVGP đều bị vu khống, gán ghép „tội trạng“, bị đấu đá, bị tước mất tự do, một số bị đưa về nông thôn lao động cải tạo, một số đưa ra xử án „gián điệp“ bị đưa vào tù (Thụy An 15 năm, Nguyễn Hữu Ðang 15 năm, Trần Thiếu Bảo (Minh Ðức) 15 năm, Phan Tài 5 năm, Lê Nguyên Chi 5 năm), nhiều người khác tuy không bị đưa ra xử án nhưng vẫn bị giam cầm không thời hạn... Tất cả đềøu bị mất việc, bị khai trừ ra khỏi các hội sáng tác, bị tước quyền được xuất bản tác phẩm, thực ra là tước quyền lao động sáng tác, vợ con bè bạn đều bị vạ lây, bị phân biệt đối xử, hành hạ đủ điều. Tình trạng đó kéo dài hàng chục năm mãi cho đến gần cuối thập niên 80, khi ÐCSLX bắt đầu „perestroika“, ÐCSVN tuyên bố „cởi trói“ thì mới dần dần thầm lén trả tự do, trả quyền công dân cho các nạn nhân trong vụ án. Nhưng TƯ ÐCSVN vẫn từ khước công khai, đàng hoàng minh oan, phục hồi danh dự và nhân phẩm cho những người bị chà đạp trong mấy chục năm trời. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: „Nhân Văn - Giai Phẩm - một tư trào, một vụ án, một tội ác“, nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).

Hành động „chuyên chính“ ác liệt tiếp theo là quyết định của BCT TƯ ÐCSVN dưới thời tổng bí thư Lê Duẩn đã được „chính quyền hóa“ bằng nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh, chủ tịch Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa, ký ngày 20.6.1961, cho chính quyền bắt giam các công dân vào trại tập trung mà không cần thủ tục tố tụng (nghị quyết này hồi đó được coi như là pháp lệnh!). Thật ra, trước đó BCT TƯ đã có chỉ thị mật cho bí thư các thành ủy và tỉnh ủy cùng với các giám đốc sở và ty công an thành và tỉnh chuẩn bị sẵn danh sách những người ở địa phương mình phải bị bắt giam vào trại tập trung mà không cần có tòa án xét xử để khi nghị quyết đó được công bố thì có thể bắt hàng loạt người đưa đi tập trung „cải tạo“ trong thời hạn 3 năm, khi hết hạn đó chính quyền có thể gia thêm hạn khác, và cứ thế kéo dài mãi.

Trong những đợt bắt bớ đầu tiên, tập đoàn thống trị chủ yếu nhắm vào những người thuộc các đảng phái khác và đặc biệt là sĩ quan, binh lính, công chức của „ngụy quân, ngụy quyền“, mặc dù những người này đã chịu ở lại miền Bắc không chạy vào Nam, đã chịu quy phục chính quyền mới, và công chức „cũ“ thì đã được chính quyền mới tuyên bố „lưu dụng“. Rồi dần dần đến lượt những người trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư, thậm chí cán bộ, đảng viên, quân nhân... là những người đã từng tham gia kháng chiến, nay có những ý kiến thắc mắc, bất đồng với đường lối chính sách của đảng, thì vẫn bị tống vào các trại tập trung theo nghị quyết phát xít số 49/NQ/TVQH nói trên. Mạng lưới trại tập trung (để tránh chữ „trại tập trung“ có tính chất phát xít lộ liễu quá, người ta dùng chữ „trại cải tạo“ na ná chữ „trại lao cải“ của Trung Quốc) được mở rộng khắp miền Bắc. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn, vợ con họ bị phân biệt đối xử, tình cảnh họ thật là bi thảm. Bao nhiêu người khốn khổ đã phải bỏ xác ở các trại tù. Ðây thực sự là một tội ác của tập đoàn thống trị ÐCSVN đối với dân tộc Việt Nam, và khốn thay, tội ác đó đã được lặp lại một lần nữa với quy mô còn lớn hơn, sau khi tập đoàn này chiếm được miền Nam.

Tình cảnh người dân bình thường trong chế độ „mới“ thật vô cùng bi đát, trong dân gian vẫn còn truyền tụng những câu ca dao chua xót, như:

„Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau
Ăn cơm thìăn với rau
Kiêng ăn cá thịt sợ ... đau dạ dày“.

Như đã nói trên, sau hội nghị TƯ lần thứ 10 (khóa 2), Trường Chinh bị mất chức tổng bí thư vì những „sai lầm“ trong cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm tổng bí thư, nhưng thực tế từ đó Lê Duẩn đã nắm toàn quyền. Ðến đại hội 3 ÐCSVN (tháng 8.1960), ông được TƯ chính thức bầu làm tổng bí thư. Phái tán đồng đường lối của Mao trong BCT TƯ ÐCSVN, gồm có Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn... ngày càng cố lái ÐCSVN theo đường lối Mao-ít. Hồ Chí Minh thì ngả nghiêng, lúc đầu cố giữ cân bằng giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhưng rồi cũng buông xuôi cho đa số trong BCT thân Trung Quốc tự do hành động. Mao Trạch Ðông và TƯ ÐCSTQ khôn khéo lôi kéo TƯ ÐCSVN vào con đường chống ÐCSLX ngày một sâu hơn. Chín bài luận văn cơ bản nhất của Trung Quốc để đả kích ÐCSLX (dù không nêu đích danh mà chỉ gọi chung chung là „chủ nghĩa xét lại hiện đại“, nhưng ai cũng biết là nhắm vào Liên Xô) lần lượt tung ra từ tháng 4.1960 thì TƯ ÐCSTQ đều có trao đổi ý kiến với TƯ ÐCSVN, điều đó chứng tỏ rằng ngay từ hồi đó hai ÐCS thực tế đã cùng đứng chung trong một mặt trận chống Liên Xô.

Ở Việt Nam hồi đó, chín bài văn này được truyền bá rộng rãi trong ÐCS như văn kiện chính thức, đã tạo nên „cơ sở tư tưởng“ cho tinh thần thân Trung Quốc chống Liên Xô tăng lên ở nước ta. Còn đến năm 1962, khi Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ chủ trương lập Quốc tế mới dưới sự lãnh đạo của ÐCSTQ, với nòng cốt là các ÐCS Albania, Indonesia, Bắc Triều Tiên, Việt Nam... thì lúc đầu BCT TƯ ÐCSVN cũng đã hưởng ứng, nên mùa hè năm1963, BCT TƯ ÐCSVN đã cử một đoàn đại biểu gồm có Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh đến Trung Quốc theo lời mời của TƯ ÐCSTQ để bàn việc lập Quốc tế mới, đặc biệt là việc chuẩn bị cương lĩnh cho tổ chức đó. Dường như trong BCT TƯ ÐCSVN không có sự nhất trí về vấn đề này, và nói chung ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam e ngại rằng nếu dứt khoát đứng chung một mặt trận với Trung Quốc để công khai chống Liên Xô thì Việt Nam khó lòng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, cho nên họ lại chần chừ trong việc tham gia Quốc tế mới do Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ lãnh đạo. Mặc dù vậy, do hoạt động của phái theo Mao trong BCT và trong TƯ nên tinh thần Mao-ít, thân Trung Quốc, chống Liên Xô ngày càng mạnh mẽ và lộ liễu trong ÐCSVN. Cái tinh thần đó lan rộng ra cả ngoài dân chúng do sự tuyên truyền lừa bịp của phái Mao-ít là Liên Xô sợ chiến tranh, sợ Mỹ và muốn chung sống hòa bình nên chống lại sự thống nhất Việt Nam.

Ðến cuối năm 1963, hội nghị lần thứ 9 (khóa 3) của TƯ ÐCSVN đã họp và ra nghị quyết lái ÐCSVN đi theo hẳn con đường Mao-ít của ÐCSTQ. Như Trường Chinh đã nói tại hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp tại hội trường Ba Ðình hồi tháng 1.1964: „Ðường lối đối ngoại và đối nội của Ðảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của ÐCS và Nhà nước Trung Quốc“. Ðiều này trái hẳn với nghị quyết đại hội 3 của ÐCSVN (tháng 9.1960), trái với những lời tuyên bố cũng như chữ ký của đại biểu ÐCSVN đặt dưới bản Tuyên bố chung của các ÐCS và ÐCN thế giới, cho nên trong TƯ cũng như ngoài TƯ có một số cán bộ hoặc công nhiên phản đối hoặc tuyên bố không tán thành và „xin bảo lưu ý kiến“.

Vấn đề gây cấn nhất hồi đó là vấn đề con đường thống nhất đất nước. Không một người Việt Nam nào không mong muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng con đường nào không phải là vấn đề dễ dàng nhất trí. Phải nói thẳng rằng tập đoàn thống trị ÐCSVN hồi những năm 1959 và 1960 đã có hành động vi phạm dân chủ nghiêm trọng đối với cơ quan có quyền lực cao nhất trong đảng là đại hội. Tại hội nghị lần thứ 15 của TƯ (tháng 1.1959) đã bí mật quyết định phải dùng bạo lực cách mạng, dùng võ trang đấu tranh để thống nhất đất nước và BCT TƯ đã quyết định điều động quân đội từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển quân trang quân dụng, võ khí vào miền Nam để tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước. Thế nhưng BCT TƯ giữ bí mật không đưa vấn đề đó ra thảo luận tại đại hội toàn quốc lần thứ 3 của ÐCSVN, mà tại đại hội vẫn báo cáo và trong nghị quyết đại hội vẫn ghi là đảng „chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng con đường hòa bình“.

Vấn đề thống nhất đất nước là một vấn đề tình cảm thiêng liêng, cho nên những cán bộ không tán thành nghị quyết hội nghị TƯ lần thứ 9 (thường gọi là „nghị quyết 9“), mặc dù đã biết trước là tập đoàn thống trị trong đảng theo Mao hồi đó đi theo con đường chiến tranh để thống nhất đất nước, trong thâm tâm đã thấy trước thảm kịch của toàn dân trong cuộc nội chiến khủng khiếp sắp tới, nhưng hầu như không có ai dám thẳng thắn phản đối vì sợ tập đoàn thống trị ghép tội phản quốc, chống lại thống nhất đất nước. Dù vậy phe Mao-ít vẫn rất e ngại những cán bộ đảng viên „bảo lưu ý kiến“, không tán thành đường lối theo Trung Quốc của họ, sẽ trở thành một lực lượng đối lập nguy hiểm cho quyền lực của họ, nên trước hội nghị TƯ lần thứ 9, họ đã tìm cách loại dần những cán bộ „có quan điểm khác“ ra khỏi những vị trí trọng yếu (cách chức bộ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm, gạt một số cán bộ cao cấp khác ra khỏi cương vị lãnh đạo các ngành quan trọng, hoặc cho họ giữ hư vị ngồi chơi xơi nước), còn sau hội nghị TƯ lần thứ 9 thì họ chuẩn bị cho một đợt thanh trừng quyết liệt đối với những cán bộ này.

Vì thế, hành động „chuyên chính“ ác liệt tiếp theo của tập đoàn thống trị là nhằm đánh ngay vào nội bộ ÐCS, nhằm những cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp, trung cấp, tán thành quan điểm của ÐCSLX, chống quan điểm của ÐCSTQ và không tán thành „nghị quyết 9“. Ðó là „vụ án xét lại - chống Ðảng“ (viết tắt VXLCÐ) thực tế bắt đầu từ cuối năm 1963, mở rộng năm 1967 và kéo dài mãi cho đến sau này. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: „Những trang sử đầm đìa nước mắt còn chưa chấm hết - „vụ án xét lại - chống Ðảng“, nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).

Theo nhận xét của nhiều người, VXLCÐ là một cuộc tranh giành quyền lực trong ÐCSVN: nhóm Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ muốn độc tôn nắm toàn quyền trong đảng-nhà nước để triệt hạ đối thủ „tiềm thế“ của họ. Nhiều người cho rằng Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ là những kẻ có tham vọng to lớn lại gian hùng, xảo quyệt, muốn đè bẹp đến cùng phe cánh của Võ Nguyên Giáp, nên đã bày ra „vụ án“ khủng khiếp này. Sau chiến thắng Ðiện Biên phủ (1954), uy tín của Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT, tổng tư lệnh, rất cao trong ÐCS và dân chúng miền Bắc. Ngay cả tổng bí thư Trường Chinh đương nhiệm cũng muốn dìm tướng Giáp xuống, vì trước mắt người dân, vai trò tổng bí thư ÐCSVN hồi đó không có gì nổi bật cả. Cũng có người nói ngay cả chủ tịch Hồ Chí Minh cũng e ngại trước uy thế của tướng Giáp (người viết bài này không thể khẳng định được điều này vì không có tài liệu), dù ông Giáp tỏ ra rất khiêm tốn và luôn luôn đề cao ông Hồ là „cha già dân tộc“.

Nhưng đặc biệt là Lê Duẩn vốn đã có mối hận sẵn sau khi cướp chính quyền hồi 1945 (người ta đã không đưa ngay ông ta từ Côn Ðảo về đất liền, sau đó lại giao cho ông chức vụ quá thấp - phụ trách dân quân Nam Bộ dưới trướng tướng Giáp, v.v...) nên đã liên kết với Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn để cố gạt Võ Nguyên Giáp ra sau khi Trường Chinh bị cách chức tổng bí thư, tạo điều kiện cho mình nắm giữ chức vụ đó. Trong thời gian này, Lê Duẩn và phe cánh tung ra những chuyện vu khống hoặc nói xấu sau lưng tướng Giáp, nào là Võ Nguyên Giáp trước Cách mạng tháng 8 có quan hệ thân thuộc với Marti, nào là „anh ta sợ Mỹ lắm“, nào là ông Giáp được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy „chỉ vì khéo nịnh hót“, v.v... (xem: Trần Quỳnh. „Những kỷ niệm về Lê Duẩn“) để hạ uy tín đánh bại hoàn toàn địch thủ của họ. Thậm chí, có thời kỳ họ còn cố ghép tội cho Võ Nguyên Giáp có âm mưu liên hệ với „bọn xét lại hiện đại“ vì đã nhận thư riêng của Khrutchev mà mười ngày sau mới báo cáo cốt để ghép cho ông Giáp tội „tay sai nước ngoài“, „gián điệp cho địch“ (xem: Thành Tín. „Mặt thật“, 1993, tr. 190-191). Công khai ghép tội cho Võ Nguyên Giáp không được thì cánh Mao-ít lại ghép tội „gián điệp“, „tay sai nước ngoài“, „âm mưu gây bạo loạn nhằm lật đổ ban lãnh đạo của đảng“... cho nhiều cán bộ khác. Chính vì thế tên chính thức của VXLCÐ mới gọi là „Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài“.

Nhiều người bị bắt, bị tù đày, giam tại gia, quản chế... người thì 6 năm, người thì 9 năm, người thì 20 năm, mà không có một tòa án nào xét xử dù chỉ là về mặt hình thức. Trước đây, cũng đã từng có những cuộc „đánh“ vào nội bộ làm nhiều người bị oan uổng, nhưng chưa bao giờ có trận „đánh“ to lớn, kéo dài và độc ác vào nội bộ như lần này làm nhiều cán bộ đảng viên, người ngoài đảng bị đọa đày, bị chết thảm khốc trong tù ngục hoặc trong cảnh giam cầm tại gia... Nếu tính cả tướng Giáp (dù không chính thức bị xếp vào „vụ án“) thì đòn thanh trừng lần này đã giáng xuống một ủy viên BCT, ba ủy viên TƯ ÐCS, một đại tướng, một trung tướng, hai thiếu tướng, bốn đại tá, một thượng tá, bốn trung tá, năm thiếu tá, và nhiều cán bộ cao cấp, như bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, phó bí thư thành ủy, ủy viên thường vụ thành ủy, phó chủ tịch thành phố, nhiều cán bộ trung cấp, nhiều nhà báo, nhà văn, giáo sư, bác sĩ.... Sau trận thanh trừng này phe cánh Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ ở thế thượng phong hoàn toàn thống trị đất nước.

Trong lịch sử thường có những khúc ngoặt oái ăm: Lê Duẩn hồi năm 1956 đến đầu thập niên 60 tán đồng quan điểm của Mao và rất hâm mộ Mao, nhưng đến giữa năm 1963, khi cùng bàn bạc với Mao để chống Liên Xô, thì lại va chạm phải đầu óc lãnh tụ, trịch thượng, kiêu ngạo của Mao (xem: Trần Quỳnh. „Những kỷ niệm về Lê Duẩn“), thế là từ đấy có sự nứt rạn giữa hai „lãnh tụ“. Như nhiều người đã nhận xét, trong tính cách của Lê Duẩn thì nét nổi bật là kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Ngay đối với Hồ Chí Minh, khi có cơ hội Lê Duẩn vẫn chê ông Hồ sau lưng, cố nhiên là trước mặt cán bộ dưới trướng của mình để tự đề cao. Với Mao cũng thế, dù noi theo lý luận của Mao, nhưng trước mặt cán bộ Việt Nam Lê Duẩn vẫn chê bai Mao sau lưng.

Sau khi „nghị quyết 9“ lái hẳn toàn bộ đường lối của ÐCSVN theo đường lối của ÐCSTQ, thì đầu năm 1964, Lê Duẩn dẫn đầu đoàn đại biểu ÐCSVN sang Liên Xô để - theo lời của Trần Quỳnh - „nói rõ lập trường quan điểm của Ðảng ta và kiến nghị Liên Xô xem xét lại lập trường của mình“ đồng thời xin viện trợ quân sự của Liên Xô. Nhưng khi gặp Khrutchev, Lê Duẩn đã im re không nói gì đến „nghị quyết 9“ chống chủ nghĩa xét lại (thật ra, không nói thì phía Liên Xô đã biết rõ về nội dung nghị quyết đó), mà chỉ báo cáo tình hình miền Nam và xin viện trợ. Khrutchev đã đồng ý viện trợ cho Việt Nam. Ðúng vào dịp này, ngay tại Moskva, đại tá Lê Vinh Quốc và thượng tá Văn Doãn, sau khi tốt nghiệp Học viện quân chính Lenin, đã tuyên bố phản đối „nghị quyết 9“ và xin cư trú chính trị ở Liên Xô. Mấy tháng sau đến lượt kẻ viết bài này và hàng chục cán bộ đảng viên, sinh viên Việt Nam cũng đã phản đối „nghị quyết 9“ của TƯ ÐCSVN, rồi xin cư trú chính trị ở Liên Xô và một số nước Ðông Âu.

Ðến tháng 10.1964, một sự biến xảy ra ở Liên Xô - cuộc đảo chính cung đình lật đổ Khrutchev đưa Brezhnev lên ngôi. Ðây là cơ hội để BCT TƯ ÐCSVN tiếp cận ÐCSLX để tìm cách xích lại gần nhằm khai thác đến mức tối đa viện trợ của hai nước „xã hội chủ nghĩa“ lớn nhất.

Lê Duẩn và phe cánh tự cho mình là người theo chủ nghĩa Marx-Lenin „đúng nhất“: vừa theo chủ nghĩa Mao, nhưng lại vừa ghét Mao, vừa chống chủ nghĩa xét lại hiện đại Liên Xô (dù không còn Khutchev), nhưng lại vừa cố cầu cạnh, ve vãn Brezhnev và ban lãnh đạo Liên Xô để xin viện trợ. Thậm chí, tại đại hội 23 của ÐCSLX, ông ta còn tuyên bố „Liên Xô là Tổ quốc thứ hai của chúng tôi“! Một số đại biểu Liên Xô vỗ tay trong hội trường, còn ngoài hành lang một số khác lại nói với nhau là: „prostitutsia“ (tiếng Nga: đĩ bợm). Mặc dù Trần Quỳnh hết lời ca ngợi „tài khôn khéo“ của Ba Duẩn, nhưng qua những điều mô tả trong sách „Những kỷ niệm về Lê Duẩn“ thì thấy „người cộng sản số một“ của Việt Nam quả thật có nhân cách một tay đại bợm lừa dối mọi người. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều cố gắng gồng mình lên giúp đỡ Việt Nam đánh thắng Mỹ. Trong thời gian này ban lãnh đạo Việt Nam một mặt ra sức khai thác đến mức tối đa viện trợ của Liên Xô (chẳng hạn, mỗi công trình Việt Nam đều yêu cầu Liên Xô viện trợ nhiều đến mức có thể dùng để xây dựng được hai - ba công trình tương đương), mặt khác họ có thái độ cực kỳ vô trách nhiệm coi tài sản viện trợ là của „chủ nghĩa xét lại“ càng lấy được nhiều và càng phung phí được nhiều thì càng tốt. Cái tâm lý này lan đến cán bộ và người dân đến nỗi người ta giải thích những chữ tắt của quốc hiệu Liên Xô - CCCP là „các chú cứ phá“ hay „càng cho càng phá“! Cái gọi là „chủ nghĩa quốc tế vô sản“ của ÐCSVN tới lúc này đã sa đọa đến như thế!

Ban lãnh đạo Trung Quốc, dường như từ cuối thập niên 60, đã dè chừng và thận trọng hơn khi viện trợ cho ÐCSVN, thậm chí hãm dần viện trợ đó. Ðiều này làm ban lãnh đạo Việt Nam rất bất mãn. Còn đến năm 1973, khi Mao Trạch Ðông và ban lãnh đạo Trung Quốc muốn hòa giải với Mỹ thì Lê Duẩn và những người lãnh đạo Việt Nam đã hằn học tỏ thái độ thù địch với ÐCSTQ (lúc đầu chỉ nói trong nội bộ), họ cho rằng Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất đất nước. Thái độ thù địch đó ngày càng mạnh và sau này đã dẫn tới sự xung đột giữa Việt Nam và Cam Bốt, rồi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, gây ra bao nhiêu tang tóc đau thương cho cả hai dân tộc. Một thời gian dàiù, những người cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn miệng chửi rủa những người cầm quyền cộng sản Trung Quốc và đất nước họ là „kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam“, và lòng thù địch Trung Quốc đó được ghi vào Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980!

* * *

Qua những biến động trong thời kỳ thứ hai này, chúng ta có thể rút ra nhận xét này: ảnh hưởng của đại hội 20 ÐCSLX đã tạo ra trong thời gian rất ngắn - chỉ vài tháng thôi - ở một số người lãnh đạo Việt Nam ý muốn mở rộng tí chút dân chủ trong đảng và ngoài xã hội. Nhưng ảnh hưởng tích cực đó chỉ thoáng qua mà thôi, rồi trước những sự biến ở Ba Lan và Hungarie, đầu óc bảo thủ lại thắng thế trong ban lãnh đạo vì nỗi sợ mất mát quyền lực. Nói chung, trong thời kỳ biến động này tập đoàn thống trị ÐCSVN đứng trên lập trường bảo thủ, chống cải cách, chống dân chủ hóa đảng và xã hội.

Vì thế toàn bộ sinh hoạt đảng cũng như đời sống chính trị của đất nước ngày càng bị siết chặt trong một chế độ độc tài cực kỳ khắt nghiệt dựa trên nền tảng „chuyên chính vô sản“ theo tinh thần chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao với ý định tiến hành đến cùng cuộc nội chiến để „thống nhất“ đất nước và xây dựng „chủ nghĩa xã hội trại lính“ trong toàn quốc. Hậu quả của một đường lối như thế đã quá rõ ràng, thiết tưởng không cần nói cụ thể ở đây. Chỉ cần hình dung cái giá mà toàn dân tộc ta đã phải trả cho cuộc nội chiến (1959-1975) và cho việc xây dựng chủ nghĩa trong cả nước (ở miền Bắc từ 1958, ở miền Nam từ năm 1976 cho đến năm 1986) thì cũng đủ thấy được tội ác lớn lao thế nào của những kẻ đã đề ra và thực hiện đường lối đó. Người viết không muốn dẫn các số liệu mà chính quyền Hà Nộiđưa ra về những tổn thất lớn lao trong cuộc chiến tranh vừa qua (chẳng hạn, ba triệu người chết trong chiến tranh...) vì e rằng con sốđó còn thấp hơn thực tế. Hy vọng về sau sẽ có cơ quan nghiên cứu vấnđề này một cáchđộc lập và khách quan.