ÐCSVN qua những biến động trong phong trào CS Quốc Tế

Nguyễn Minh Cần


Thời kỳ biến động lớn thứ ba: "Prestroika"
và sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới

Cho đến những thập niên 70, 80, cuộc khủng hoảng chế độ ở Liên Xô đã lên đến cao điểm. Một trong những biểu hiện nổi bật nhất của khủng hoảng là nền nông nghiệp xô-viết ngày một sa sút trầm trọng, tình trạng thiếu lúa mì, thịt, sữa là một hiện tượng triền miên không dứt nổi. Năm 1963 mất mùa, đây là một trong những cớ mà Brezhnev và phe cánh dùng buộc tội Khrutshev để làm đảo chính, nhưng dưới thời ông ta thì lại liên tiếp mất mùa trong những năm 1965, 1967, 1972, còn 1975 thì mất trắng. Brezhnev tung ra một „Chương trình lương thực“ đồ sộ, huênh hoang mà thực tế chẳng giải quyết được gì cả. Hàng năm, dưới thời Brezhnev và Andropov phải chi đến 8 tỉ đô la Mỹ để mua lúa mì ở nước ngoài, mua nhiều nhất là ở Hoa Kỳ, Canada. Thế mà dưới thời Sa hoàng, nước Nga là một trong những nước cung cấp nhiều lúa mì cho thế giới! Về công nghiệp, trong suốt thời gian tồn tại của Liên Xô không bao giờ chấm dứt được nạn khan hiếm trầm trọng hàng tiêu dùng. Mà nếu có hàng thì chất lượng thấp kém, người dân trong nước cũng không muốn xài, chứ nói gì đến khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc xuất cảng để kiếm ngoại tệ chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên để bán. Trừ lĩnh vực công nghiệp quân sự, còn nói chung trong nền kinh tế quốc dân, kỹ thuật và thiết bị đều quá lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới. Trong bài „Sáng kiến vĩ đại“, Lenin quả quyết rằng „chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng chủ nghĩa tư bản nhờ năng suất lao động dưới chủ nghĩa xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản“.

Thế nhưng, sau bảy thập niên, nếu so sánh về năng suất lao động giữa Liên Xô và Hoa Kỳ thì Liên Xô thua quá xa. Chẳng hạn, năm 1970, một người lao động trong nông nghiệp Liên Xô thu hoạch hàng năm 4,5 tấn ngũ cốc, còn một người Mỹ - 54,7 tấn, và tương ứng như thế về thịt - 320 và 4570 kilogam, sữa - 2,8 và 11,8 tấn. Trong các lĩnh vực công nghiệp cũng thế. Năm 1987, năng suất lao động của Liên Xô chỉ bằng một phần ba của Mỹ, còn trong nông nghiệp chỉ bằng 15% (xem: báo „Izvestia“, 7.7.1988). Các chương trình đầy tham vọng đuổi kịp và vượt xa nước Mỹ về mặt này mặt khác về kinh tế, chẳng hạn, về thịt và sữa chỉ là những... giấc mơ. Biểu hiện nổi bật về khủng hoảng tinh thần là thái độ lao động của người dân Liên Xô. Khi Homo sapiens đã trở thành Homo sovieticus, tức là „con người mới xã hội chủ nghĩa“, thì nổi bật ngay đặc tính phổ biến của số đông là ngại lao động, lười biếng, làm việc tắc trách... mặc dù trên lời nói những người cộng sản luôn luôn đề cao lao động! Chẳng những thế, tệ nạn ăn cắp của công, tham nhũng, nghiện rượu tràn lan đã trở thành những căn bệnh nan trị. Thật ra thì đa số người dân nơi nào cũng tốt, nhưng ở Liên Xô, chế độ cộng sản đã biến hóa con người ra như thế đó.

Liên Xô là đất nước rộng lớn nhất thế giới, tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, tài năng không thiếu, có đầy đủ điều kiện để đem lại cho nhân dân trong nước một cuộc sống sung sướng về mọi mặt. Nhưng vì chế độ chính trị trái quy luật tiến hóa của lịch sử, nên đất nước càng giàu có tài nguyên thì lại càng phung phí, người dân thường đã khổ lại càng khổ. Hơn nữa, do ý đồ thống trị thế giới, các lãnh tụ cộng sản, ngay từ thời Lenin, đã tung ra bao nhiêu vàng bạc, tiền của để nuôi dưỡng các ÐCS tay chân, các tổ chức khủng bố, hòng dựng lên những chế độ tay sai cho mình, và chính những tổ chức, những chế độ này đã sống bám và thu hút một phần khá lớn sinh lực của Liên Xô. Tập đoàn thống trị Liên Xô lừa bịp dân chúng trong nước là họ „làm nghĩa vụ quốc tế“, thực hiện của „chủ nghĩa quốc tế vô sản“, ủng hộ „cách mạng thế giới“.

Ðến đầu thập niên 80, trong PTCSQT đã có trên 180 ÐCS, ÐCN và các đảng dân tộc chủ nghĩa „có định hướng xã hội chủ nghĩa“, trong số đó đại đa số đều được ÐCSLX „chi viện“. Và đã có 24 nước gọi là „xã hội chủ nghĩa“ hoặc „có định hướng xã hội chủ nghĩa“ ở các châu Âu, Á, Phi và Mỹ La tinh với diện tích 41 triệu km vuông (chiếm 27,5% diện tích lục địa thế giới) và dân số 1783 triệu người, kể cả 1035 triệu của Trung Quốc (chiếm 39,7% dân số thế giới). Tất cả các nước đó, kể cả Trung Quốc (trước ngày Xô-Trung phân liệt), đều nhận viện trợ to lớn của Liên Xô! Những người lãnh đạo ÐCSLX huênh hoang khoe đó là „thắng lợi vĩ đại do ánh sáng cách mạng tháng Mười vĩ đại đem lại“, nhưng người dân xô-viết bình thường lại căm giận vì thấy bản thân họ và đất nước họ đã bị ÐCS bòn rút đến kiệt quệ để „nuôi báo cô“ bọn độc tài, bọn khủng bố, bọn bạo loạn quá khích quốc tế. Cuộc phiêu lưu quân sự vô nghĩa của Liên Xô tại Afganistan kéo dài gần 10 năm (từ tháng 12.1979 cho đến ngày quân Liên Xô rút lui hồi tháng 2.1989) là một đòn rất nặng nề về mọi mặt cho chế độ xô-viết.

Tình hình khủng hoảng kinh tế càng trầm trọng thêm khi dưới thời Brezhnev, ÐCSLX cố dốc hết sức ra giành cho được „thế quân bình về võ khí chiến lược“ trong cuộc chạy đua võ trang với các nước Âu Mỹ, nên cuối cùng, Liên Xô đã hoàn toàn... kiệt sức. Người khổng lồ xô-viết vẫn cứ làm ra vẻ „siêu cường“ lăm le bom nguyên tử trong tay nhưng thật ra chân đã là... đất sét!

Ðầu thập niên 80, ba tổng bí thư ÐCSLX già cỗi, bệnh hoạn, lẫm cẫm lần lượt „đi gặp cụ Marx“ (xin mượn lối nói của Hồ Chí Minh). Tổng bí thư thứ bảy Mikhail Gorbachev lên ngôi vị vào tháng 3.1985. Lúc đó, dân chúng cũng chưa biết Gorbachev là người như thế nào, nhưng thấy thích ngay vì ông còn trẻ, nói chuyện trước dân không cầm giấy đọc ấp úng như các vị trước, hơn nữa những điều ông ta nói nghe có vẻ hứa hẹn một cái gì mới mới. Do đó, ngay từ đầu ông đã nhận được „tín dụng niềm tin“ to lớn của dân chúng Liên Xô.

Gorbachev đã từng ở trong ban lãnh đạo ÐCSLX qua ba triều tổng bí thư, ông biết rõ đất nước và xã hội đang đứng trước những khó khăn to lớn. Làm thế nào để vượt qua được những khó khăn đó - là vấn đề cấp thiết nhất đã đặt ra cho ông và ÐCSLX. Ông cố giải quyết vấn đề này với ý đồ duy trì bằng được chế độ cộng sản hiện tồn, cũng như quyền lực của giai cấp nomenklatura mà ông là kẻ đại diện. Ông không dám nhìn nhận là đất nước đang lâm vào cuộc khủng hoảng chế độ có tính chất toàn diện và không muốn truy tìm nguồn gốc khủng hoảng. Vì thế, tuy ông và TƯ ÐCSLX có nói đến „perestroika“ đấy, nhưng đã không có quan niệm rõ rệt và một chiến lược toàn diện để vượt qua khủng hoảng, mà cứ loay hoay, lúng túng, chao đảo, ngả nghiêng làm cho cuộc khủng hoảng ngày thêm trầm trọng.

Về mặt đối ngoại:

Ðể vượt qua những khó khăn nghiêm trọng của đất nước, Gorbachev hy vọng bằng một đường lối đối ngoại hòa dịu với các cường quốc trên thế giới, ông có thể giảm nhẹ được gánh nặng chạy đua võ trang của Liên Xô, đồng thời có thể tranh thủ được tín dụng của các nước đó để giải quyết những vấn đề kinh tế trước mắt. Gorbachev có cái may là trong chuyến đến thăm nước Anh hồi tháng 12.1984, đã được nữ thủ tướng M. Thatcher có cảm tình và nhận xét tốt („Tôi thích ông Gorbachev. Chúng tôi có thể cùng nhau làm việc được“. Time 31.12.1984), do đó đã tạo dựng uy tín cho ông trong báo giới quốc tế khi ông mới chỉ là một ủy viên BCT TƯ. Thêm nữa, khi lên cầm quyền, Gorbachev có được những người cộng sự đắc lực, thông minh, như A. Yakovliev (ủy viên BCT TƯ ÐCSLX phụ trách chính sách đối ngoại) và E. Shevardnadze (ủy viên BCT TƯ ÐCSLX, bộ trưởng ngoại giao) biết đánh giá khách quan tình thế hiểm nghèo của Liên Xô trong cục diện chung để giúp ông phần nào vượt qua được những nhận thức thiển cận, thô thiển của một „anh cán bộ cộng sản tỉnh lẻ“ (xin mượn nhận xét của sử gia D.Volkogonov) và „cố vấn“ cho ông những „bước đi“ thích hợp về mặt đối ngoại, nhờ đó uy tín của ông trên thế giới rất cao đến mức tạo ra... „chứng mê si Gorbi“ ở ngoài nước. Mặt khác, cũng cần nói đến sự hoạt động khôn khéo và có phối hợp của những nhà chính trị đứng đầu các nước lớn, như các tổng thống R. Reagan, G. Bush, F. Mitterand, các thủ tướng M. Thatcher, H. Kohl, v.v... biết lợi dụng sự yếu đuối của Liên Xô để đạt tới những nhân nhượng cần thiết có lợi cho việc chấm dứt chiến tranh lạnh trên thế giới và cho sự thắng lợi của các lực lượng dân chủ ở các nước „xã hội chủ nghĩa“.

Người ta đã viết quá nhiều về mặt đối ngoại thời Gorbachev, nên ở đây chúng tôi chỉ xin nêu một số vấn đề thôi. Trước hết, việc rút quân đội xô-viết ra khỏi Afganistan. „Cuộc chiến tranh bẩn thỉu“ này của Liên Xô đã đẩy 546255 sĩ quan và binh lính đi chiến đấu trên đất nước người làm 13826 binh sĩ bị thiệt mạng (xem: APRF - Lưu trữ Tổng thống Liên bang Nga. Báo cáo của bộ quốc phòng Liên Xô, số 0431), gây biết bao hậu quả to lớn cho Liên Xô. Ngay từ cuối năm 1985 nhiều người đã đề nghị rút quân, và đến năm 1986 chính Gorbachev cũng đã nói cần phải „gỡ nút buộc Afganistan“, nhưng ông cứ chần chừø mãi đến tháng 4.1988 mới quyết định rút và đầu năm 1989 mới thực sự rút hết quân. Ở đây nổi bật con người Gorbachev mà D.Volkogonov đã nhận xét chính xác: «Phương pháp luận đầy nghịch lý của tổng bí thư cuối cùng là thế: đã đi đến được một giải pháp đúng, có khi là do ông đưa ra trước, nhưng ông lại không vội thực hiện điều đã suy tư và tìm thấy. Ông do dự, nghĩ lui, lại cân nhắc, rồi hoãn lại. Gorbachev còn bàn lâu nữa với các ủy viên «ban tham mưu đảng» (ý nói BCT) của mình để cố giành thắng lợi trong cuộc phiêu lưu rõ ràng đã thất bại». Thậm chí đến tháng 11.1987, khi bộ quốc phòng Liên Xô đã vạch kế hoạch rút quân, ông còn dành thì giờ gặp „lãnh tụ“ bù nhìn của xô-viết là Nadzhibulla để hướng dẫn cho ÐCS Afganistan (tên chính thức là Ðảng dân chủ nhân dân Afganistan) phải làm gì để củng cố thành quả cách mạng (!), và tháng 4.1988 ông lại bay đến Tashkent gặp Nadzhibulla lần nữa, còn trước khi bắt đầu rút quân, hồi tháng 5.1988 Gorbachev vẫn còn cố bênh vực cho quyết định phiêu lưu của BCT TƯ ÐCSLX hồi tháng 12.1979 đưa quân vào Afganistan, ông tuyên bố: «chúng ta phải nói rằng các chiến sĩ của ta đã hy sinh thân mình không vô ích...» Không vô ích! Thế thì họ hy sinh có ích vì cái gì? Gorbachev không trả lời được. Dẫu sao chăng nữa, việc Liên Xô rút quân cũng được thế giới hoan nghênh, trong lúc người dân Liên Xô thì cay đắng, xót xa vì cái giá rất đắt phải trả thêm cho ba năm do dự đó của Gorbachev (1985 - 3 tỷ rúp, 1986 - 4 tỷ rúp, 1987 - 5,5 tỷ rúp theo giá trị hồi đó) (xem: D. Volkogonov. «Bảy lãnh tụ», t.2, tr.325-328).

Việc giải trừ quân bị, nhất là giải trừ vũ khí chiến lược đạt đến những thỏa thuận cao khi hai tổng thống M. Gorbachev và R. Reagan ký hồi tháng 12.1987 ở Washington Hiệp ước Xô - Mỹ về việc hủy bỏ tên lửa tầm trung và tầm ngắn. Tiếp đó, tháng 12.1989, hai tổng thống M. Gorbachev và G. Bush cùng tuyên bố ở Malte là chiến tranh lạnh đã kế thúc. Ðó là những sự kiện lịch sử làm nhân dân thế giới rất phấn khởi. Cũng nên nhắc lại rằng tình hình khủng hoảng kinh tế của Liên Xô trong thời kỳ này đã lên đến cao độ, phong trào dân chủ và dân tộc đang sục sôi trong nước và ở Ðông Âu. Ðó là cái thế buộc Gorbachev và ban lãnh đạo cộng sản phải có «bước đi» như vậy để tranh thủ tín dụng của các nước phương Tây. Xin dẫn ra đây một việc để làm sáng tỏ điều vừa nói: tháng 7.1990, Gorbachev đã gặïp tại điện Kremli một nhóm chuyên gia kinh tế Liên Xô sốt sắng chủ trương kinh tế thị trường, ông giải thích cho nhóm này hiểu «động cơ» của chính sách đối ngoại của ông: chúng ta rất cần tín dụng của phương Tây, cần đến 20 tỷ đô la. Gorbachev nói: « Ðối với người Mỹ, Nhật, Ðức thì số tiền đó không lớn. Vấn đề không phải là họ tiếc số tiền đó, mà là ở chỗ chúng ta chưa làm cho họ tin chúng ta được». Cuộc gặp mặt các nhà kinh tế đó diễn ra sau hội nghị bảy nước giàu nhất thế giới (G7) ở Houston. Tại G7, Bush có thái độ rất dè dặt đối với chương trình «hào phóng» của Tây Âu, nên Gorbachev gọi điện cho Bush dọa: «Chúng tôi có thể không nhờ đến các anh, nhưng như thế thì đành phải siết chặt bù loong, giảm tốc độ perestroika» (xem: báo «Russkaya mysl» - Tư tưởng Nga, 10.8.1990).

Năm 1990, trong cuộc đàm phán với tổng thống Bush ở Helsinki, tổng thống Gorbachev tuyên bố Liên Xô ủng hộ chính sách của Mỹ tại Cận Ðông. Lần này Bush đã hoàn toàn tin tưởng ở Gorbachev. Tiếp theo là thái độ «nhắm mắt làm lơ» của Liên Xô để Hoa Kỳ tự do hành động trong cuộc chiến vùng Vịnh. Bằng việc làm đó, Gorbachev hy vọng trận mưa vàng sẽ trút xuống...

Trong những năm 1989-1990, nhất là sau bài diễn văn tại Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc, danh tiếng của Gorbachev lên tới cực điểm, đưa đến việc trao tặng giải thưởng Nobel Hòa bình cho ông. Giải thưởng đó đáng lẽ phải là niềm hân hoan chung của đồng bào ông, nhưng không, phản ứng đồng loạt của họ là phủ nhận, thậm chí phản đối. Ðó là một nghịch lý hoàn toàn dễ hiểu.

Trước những biến động vũ bão và lớn lao làm sụp đổ chế độ «xã hội chủ nghĩa» ở Ðông Aâu hồi cuối năm 1989, Gorbachev và ban lãnh đạo ÐCSLX đã giữ thái độ bất can thiệp vì họ nhận thức rõ, trong lúc bản thân Liên Xô đang bị khủng hoảng nghiêm trọng, một sự can thiệp quân sự sẽ làm Liên Xô sa lầy nặng, tạo điều kiện cho phong trào dân chủ ở Liên Xô hồi đó đang rất mạnh có dịp bùng nổ lật đổ chính quyền xô-viết. Ðồng thời người ta cũng đã lường trước phản ứng quốc tế mạnh mẽ đối với một cuộc can thiệp như vậy. Thái độ đó của Gorbachev và ban lãnh đạo Liên Xô đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sụp đổ của các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Ðông Âu, cho «cuộc đổi đời» của nhân dân các nước này diễn ra nhẹ nhàng.

Ðối với thái độ bất can thiệp của Gorbachev và ban lãnh đạo ÐCSLX hồi đó, nói chung trên thế giới người ta khen nhiều hơn chê. Cũng có vài tờ báo nước ngoài tán dương Gorbachev quá mức, coi ông là «người giải phóng Ðông Âu“! Ngược lại, ban lãnh đạo ÐCSVN, thì coi ông là «kẻ phản bội» (xem: sách «Sự phản bội của Goóc-ba-trốp» của Viện khoa học công an Việt Nam do NXB Công an Nhân dân ấn hành). P. Tsvetov, phóng viên báo «Pravda» (Sự Thật) của ÐCSLX thường trú trong nhiều năm tại Hà Nội, đã cho biết thêm: «trong nhiều năm, trong ngành tuyên truyền nội bộ đảng (Việt Nam - NMC) đã lưu truyền lời nói này: «Yeltsin là tên phản bội, Gorbachev là nhân viên của CIA» (xem: «Nước Việt Nam truyền thống», Quyển 2, Moskva, 1996, bài «Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở châu Âu dưới mắt người Việt Nam» của P. Tsvetov, tr.196). Còn người viết những dòng này thi coi Gorbachev là một «con người thực tế» biết đánh giá đúng thực lực hồi đó của Liên Xô cũng như tình hình trong và ngoài Liên bang Xô-viết.

Về mặt đối nội:

Lên cầm quyền, Gorbachev bắt tay ngay vào chiến dịch chống rượu: ngày 7.5.1985, TƯ ÐCSLX ra quyết nghị „Về những biện pháp để khắc phục nạn say rượu và nghiện rượu“. Cũng giống như Andropov khi lên ngôi tổng bí thư đã bày ngay chiến dịch siết chặt kỷ luật lao động, Gorbachev coi việc chống rượu là chìa khóa tăng năng suất lao động. Ai cũng biết nạn rượu ở Liên Xô gây ra vô vàn tổn thất to lớn chẳng những cho kinh tế đất nước, năng suất lao động, an ninh xã hội, đạo đức tinh thần, hạnh phúc gia đình mà ngay cả cho bản thân sự sinh tồn của con người nữa. Ðây là vấn đề rất đáng quan tâm. Nhưng chống rượu đâu phải là khâu chính để vượt qua khủng hoảng, trong khi khủng hoảng bắt nguồn từ bản chất nền kinh tế tập trung chỉ huy, từ bản chất chế độ cực quyền? Hơn nữa, Gorbachev chống rượu bằng những biện pháp hành chính, mệnh lệnh, cấm đoán theo phong cách quen thuộc của các lãnh tụ cộng sản. Hậu quả của chiến dịch chống rượu vô cùng to lớn cả về kinh tế, xã hội lẫn về chính trị. Các vườn nho quý bị đốn sạch, các vùng sản xuất rượu ở miền nam nước Nga, ở Moldavia, Gruzia (còn gọi là Georgia), Crimée... bị tàn phá, nhà nước mất đi một nguồn lợi rất lớn (hàng năm thiệt hại đến 10 tỷ rúp), dân chúng các vùng nho bị sạt nghiệp, bị thất nghiệp, lòng bất mãn ở các vùng này lên cao. Nhà nước tăng giá rượu vodka thì người dân đối phó lại bằng việc nấu rượu lậu. Số đường dùng để nấu rượu lậu năm 1987 là 1,4 triệu tấn, bằng ngân sách của cả nước Ukraina với 50 triệu dân! Ðường trở nên khan hiếm trầm trọng, nhà nước phải áp dụng chế độ tem phiếu mua đường cho toàn dân kể từ ngày 1.5.1989. Dân chúng, cả người nghiện lẫn người không nghiện, đều phản đối chiến dịch chống rượu của Gorbachev. Ba năm sau, ngày 25.10.1988, TƯ ÐCSLX ra quyết nghị kết thúc chiến dịch chống rượu!

Tháng 9.1985, Gorbachev lại tung ra một cuộc vận động nữa cũng nhằm tăng cao năng suất lao động: ông định nhen nhóm lại phong trào thi đua Stakhanov nhân dịp kỷ niệm 50 năm phong trào này. Xin nói sơ qua chuyện „anh hùng lao động“ Stakhanov. Hồi năm 1935, trong đêm 30 rạng ngày 31 tháng 5, Stakhanov đã đào được 102 tấn than đá trong một ca mà tiêu chuẫn đặt ra chỉ có 7 tấn, và đến ngày 19.9, anh đã đào được 227 tấn trong một ca! Từ đó Stalin phát động phong trào Stakhanov hết sức rầm rộ. Nhưng Gorbachev không tài nào nhen lên nổi phong trào Stakhanov, bài diễn văn đao to búa lớn của ông về „những truyền thống chói lọi muôn đời của chiến công lao động“ chỉ là tiếng kêu giữa sa mạc. Ðến đại hội 27 ÐCSLX (1986), người ta lại cố thổi lên lần nữa, nhưng không ai hưởng ứng. Tháng 10.1988, tờ „Komsomolskaya Pravda“ lần đầu tiên dám nói sự thật: „chiến công“ Stakhanov là một trò lừa bịp! Người ta đã chuẩn bị trước cho Stakhanov một hầm lò đã làm sẵn, và quan trọng hơn là người ta cho anh thêm hai người phụ việc! Thế là Gorbachev „ra quân hai trận đầu“ đều thất bại.

Thế thì „perestroika“ là cái gì? Lenin, Stalin cũng đã dùng từ này mỗi lần cần phải chấn chỉnh, sửa đổi công tác nào đó. Từ này có hai từ tố „pere“ là „lại, tái“ và „stroika“ là „xây dựng“, „kiến thiết“; „perestroika“ có nghĩa là „xây dựng lại“, „tái thiết“, cũng có nghĩa là „chấn chỉnh“, „chỉnh đốn“, „cải tổ“. Thật ra, khi đặt ra vấn đề „perestroika“, chính bản thân Gorbachev và BCT TƯ ÐCSLX cũng không có ý niệm cụ thể về nội dung. Nói cho công bằng, người đầu tiên đưa ra vấn đề „perestroika“ một cách nghiêm túc không phải Gorbachev mà là nữ viện sĩ Tatiana Zaslavskaya. Bà đã chuẩn bị hồi mùa thu năm 1982 một chương trình cải cách thật sự gọi là „perestroika“. Báo cáo của bà được trình bày tại cuộc hội thảo (seminare) trước khoảng 50 nhà khoa học, về sau được đăng trên tờ „Washington Post“ hồi tháng 8.1983 gọi là „Văn kiện Novosibirsk“. Zaslavskaya nhấn mạnh đến sự cần thiết phải „perestroika“ (cải tổ) hệ thống quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế. Bà đề nghị từ bỏ những phương pháp quản lý hành chính mà sử dụng trước tiên những „kích thích“ có tính đến quyền lợi, nhu cầu kinh tế và xã hội của người lao động. Gorbachev vớ lấy từ „perestroika“ nhưng lúc đầu ông lại đưa ra nội dung là „uskorenie“ (thúc nhanh) và „intensifikasia“ (phát triển theo chiều sâu). Nghị quyết đại hội 27 ÐCSLX (1986) tập trung mọi sự chú ý vào hai vấn đề „thúc nhanh“ và „phát triển theo chiều sâu“ trong khi nền kinh tế đất nước đã như một con ngựa già kiệt sức giẫm chân tại chỗ! Gorbachev không hề công khai nhận sai lầm của một đường lối như thế, trái lại, nhiều lần ông khẳng định là“perestroika“ đã đi đúng hướng!

Tháng 5.1986, TƯ ÐCSLX và chính phủ Liên Xô ra quyết định về „nghiệm thu nhà nước“, bắt buộc từ ngày 1.1.1987, tất cả các sản phẩm làm ra đều phải qua „nghiệm thu nhà nước“ nghiêm ngặt. Gorbachev và ÐCSLX tin chắc là biện pháp này sẽ „tạo một bước căn bản cải tiến chất lượng sản phẩm“. Nhưng... tổng kết cuối năm 1987 từ 15 đến 18% sản phẩm công nghiệp không qua được nghiệm thu và tổng giá trị số phế phẩm vứt đi hay bắt sửa chữa lại lên tới 6 tỷ rúp. Năm sau, vào tháng 1.1989, „nghiệm thu nhà nước“ không nhận sản phẩm công nhiệp trị giá 1,4 tỷ rúp, tức là 8% tổng sản phẩm, riêng ngành chế tạo máy là 13,5%. Tình hình này làm giảm sút nghiêm trọng thu nhập của mọi người trong nhà máy, nên cả công nhân, kỹ sư lẫn giám đốc xí nghiệp đều chống lại. Cuối cùng đến tháng 10.1989, „nghiệm thu nhà nước“ bị bãi bỏ.

Tiếp theo ÐCSLX và Xô-viết tối cao Liên Xô (XVTCLX) lại ra „Luật về xí nghiệp“, nhằm mở rộng quyền cho xí nghiệp, chuyển xí nghiệp sang chế độ hạch toán kinh tế, chế độ tự hoàn vốn để đẩy mạnh sản xuất. Lần đầu tiên, cán bộ, công nhân viên được bầu cử giám đốc xí nghiệp, điều này lúc đầu cũng gây được phần nào sự phấn khởi trong các nhà máy. Nhưng sự thể không giản đơn như người ta tưởng. Dườøng như đạo luật đó đã cho xí nghiệp quyền độc lập rộng rãi, nhưng thật ra thì toàn bộ sản phẩm của xí nghiệp lại do các bộ đặt hàng hết. Thế là „đơnđặt hàng nhà nước“ lại là một kiểu kế hoạch hóa cóđịnh hướng và cóđịa chỉ cụ thể không khác gì trước. Ðến tháng 9.1989,đạo luậtđóđãđược sửa chữa và bổ sung rất nhiều, nhưng mà 80% xí nghiệp vẫn không hài lòng. „Luật về xí nghiệp“ cũng khôngđem lại kết quả gì!
Phải đến hội nghị TƯ ÐCSLX hồi tháng 1.1987, lần đầu tiên Gorbachev và những người lãnh đạo Liên Xô mới có được một khái niệm rõ ràng hơn về „perestroika“. Người ta đã nhận thấy đường lối sai lầm „thúc nhanh“ và „phát triển theo chiều sâu“ của đại hội 27, nhưng do ý thức hệ Marx-Lenin còn nặng, người ta vẫn rất ngần ngại không chấp nhận khuyến nghị của các chuyên gia kinh tế nên cải cách giá cả để mạnh dạn bước vào kinh tế thị trường. Tuy vậy, trước sức ép của phong trào dân chủ, nhất là của báo chí và dư luận xã hội, TƯ ÐCSLX bắt đầu có những bước mạnh dạn hơn về mặt dân chủ hóa xã hội, về cách thức bầu cử dân chủ đối với các tổ chức dân cử, các tổ chức xã hội, các xí nghiệp nhà nước... Hội nghị TƯ đã chủ trương bầu cử dân biểu vào Ðại hội dân biểu Liên Xô và lần đầu tiên Gorbachev đưa ra tư tưởng mạnh dạn về tính chất đa nguyên của các hình thức sở hữu và mập mờ nói đến khả năng xóa bỏ điều 6 của Hiến pháp Liên Xô. Những người dân chủ ở Liên Xô hồi đó rất hy vọng dùng con đường nghị trường để cải biến dần chế độ cực quyền trở thành dân chủ. Chính lúc này đã có điều kiện thuận lợi để đưa lên báo chí những cuộc thảo luận sôi nổi đòi quyền tự do báo chí, tự do lập hội. Dù chưa có quyết định rõ ràng của nhà nước, những người dân chủ cũng đã bắt đầu thận trọng đưa ra các tổ chức, lúc đầu chỉ là những tổ chức văn hóa, giải trí, thể thao, xã hội, từ thiện, tương tế... thôi. Ðến khi có việc bầu cử dân biểu thì lập các tổ chức (gọi là nhóm sáng kiến) giới thiệu người ra ứng cử dân biểu, vậân động cho ứng cử viên... rồi dần dần tiến lên các tổ chức chính trị. Những tổ chức này xuất hiện mà không xin phép, tiếng Nga gọi là „neformal“ (tổ chức không hợp thức). Về sau khi phong trào lên mạnh, số lượng các tổ chức không hợp thức trong cả nước lên đến khoảng bốn ngàn, đứng đầu là tổ chứcø „Phong trào Nước Nga dân chủ“. Ðến lúc này, KGB dù có muốn đàn áp cũng không đối phó nổi.

Trong thời gian 1986-1987, uy tín của Gorbachev thực sự lên cao ở Liên Xô, nhưng cũng không được lâu. Vì quá nặng nợ với ý thức hệ Marx-Lenin, với chủ nghĩa cộng sản và quá nặng tình với giai cấp nomenklatura, nên mọi chính sách của ông và ÐCS thường là nửa vời, không dứt khoát, luật nọ chống luật kia, cuối cùng chẳng đem lại kết quả thực tế. Chẳng hạn, đạo luật về hoạt động lao động cá nhân (18.11.1986) „cho phép hoạt động lao động cá nhân trong lĩnh vực thủ công nghiệp, trong phục vụ sinh hoạt dân chúng“ với điều kiện „chỉ dựa trên lao động cá nhân của công dân và gia đình họ“ thì lại mâu thuẫn với nghị quyết của TƯ ÐCSLX và sắc lệnh của XVTCLX về „tăng cường đấu tranh chống thu nhập không lao động“ với những hình phạt nặng nề đối với „thu nhập không lao động“. Chẳng những người dân mà ngay cả các nhà chức trách cũng khó lòng phân rõ đâu là „thu nhập không lao động“, đâu là „thu nhập do lao động cá nhân“! Một thí dụ khác. Ngày 1.7.1988, đạo luật mới về hợp tác xã bắt đầu có hiệu lực với ý đồ biến hợp tác xã „thành một mạng lưới rộng lớn gắn liền với khu vực kinh tế quốc doanh và hoạt động lao động cá nhân của dân chúng“, nhưng trước đó ba tháng rưỡi, XVTCLX đã ra sắc lệnh đánh thuế lũy tiến vào hợp tác xã với những điều khoản khắc nghiệt hơn nhiều so với thời NEP! Hai năm tồn tại của hợp tác xã cũng không đem lại kết quả gì. Trong lúc đó thì nền kinh tế „thứ hai“ (người Nga gọi là „nền kinh tế trong bóng tối“) ngày một phát triển.

Sau bốn năm „perestroika“, tháng 4.1989, lần đầu tiên Gorbachev thú nhận với các ủy viên TƯ đảng: „...tất cả chúng ta đã không biết rõ đất nước mình, nơi chúng ta đang sống“. Nhận thức được như thế, nhưng tổng bí thư không thể nào vượt qua được bức tường sắt chận đường „perestroika“, đó là ý thức hệ Marx-Lenin, mà một trong những điểm chủ chốt là quan niệm về sở hữu tư nhân. Ðây là một câu nói tiêu biểu của Gorbachev thường được nhắc đi nhắc lại dưới thời „perestroika“: „Sở hữu tư nhân - như mọi người biết - là cơ sở của việc người bóc lột người, mà cuộc cách mạng của chúng ta được thực hiện chính là để tiêu diệt nó và chuyển toàn bộ thành sở hữu của nhân dân“. Tư tưởng này đã chỉ đạo ông trong suốt thời kỳ „perestroika“ làm ông không thể tìm ra được lối thoát.

Xin nói đến lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực Gorbachev tự coi mình là chuyên gia am hiểu nhất. Trong15 năm lãnh đạo nông nghiệp ở địa phương và trung ương, không phải ông không thấy được phần nào tình trạng trầm trọng của nền nông nghiệp xô-viết, nhưng thành kiến, thậm chí ác cảm với sở hữu tư nhân và ý muốn bảo vệ đến cùng nông trang tập thể (kolkhoz), nông trường quốc doanh (sovkhoz) làm cho mọi đường lối chính sách của ông trong lĩnh vực này hết sức hời hợt và vô hiệu. Một trong những việc „lớn“ đầu tiên về nông nghiệp của tổng bí thư mới là quyết định của TƯ ÐCSLX và HÐBTLX (23.11.1985) „Về việc hoàn thiện hơn nữa sự quản lý tổ hợp công nông nghiệp“. Người ta tưởng đây là „thần dược“ để giải quyết vấn đề lương thực: đem nhập 5 bộ nông nghiệp và một ủy ban nhà nước (cũng là nông nghiệp) thành một „siêu bộ“ khổng lồ gọi là Tổ hợp công nông nghiệp nhà nước Liên Xô (Agroprom)! Cố nhiên, cứ loay hoay về mặt tổ chức bộ máy quản lý như vậy, khi hợp vào, khi lại chia ra, nông nghiệp xô-viết không nhờ thế mà phát triển được. Ðến tháng 3.1989 thì TƯ ÐCSLX lại ra nghị quyết gián tiếp công nhận rằng những biện pháp đầu tiên đó là không đúng: TƯ quyết định bãi bỏ ủy ban (comité) nhà nước Agroprom mà thay bằng ban (commission) nhà nước về lương thực và thu mua!

Ðến đại hội 27 ÐCSLX, người ta lại tìm ra „phương thuốc“ khác để tăng gia sản xuất nông nghiệp: hàng năm trong kế hoạch 5 năm sẽ quy định mức thu mua cố định cho nông trang tập thể, nếu nông trang nào vượt mức thu mua đó thì có quyền hoặc bán thêm cho nhà nước, hoặc bán ra thị trường, hoặc phân chia giữa nông trang viên với nhau. (Trước kia thì mức thu mua cố định tùy theo mùa thu hoạch, thu hoạch càng cao thì kế hoạch thu mua càng cao). Cả biện pháp này nữa cũng không giải quyết được vấn đề nông nghiệp đang trì trệ!

Ngày 16.3.1989, TƯ ÐCSLX lại ra quyết nghị „Về chính sách nông nghiệp của ÐCSLX trong điều kiện mới“, Gorbachev coi đây là đường lối chung của đảng, là cải cách lớn và lại hứa hẹn „bước ngoặt“ lớn. Chìa khóa để giải quyết vấn đề lương thực lần này là nhà nước cho nông dân thuê ruộng đất. Sắc lệnh của XVTCLX do Gorbachev ký ngày 7.5.1989, quy định cho thuê ruộng đất có thời hạn từ 5 đến 50 năm. Do định kiến đối với sở hữu tư nhân, nên Gorbachev và TƯ ÐCSLX không chịu cho nông dân thuê ruộng đất để sử dụng vĩnh viễn, làm cho cuộc cải cách đó có tính chất nửa vời và nước đôi rõ rệt. Mà thật ra, dù có cho thuê vĩnh viễn đi nữa, chưa chắc nông dân Liên Xô đã tin, họ còn nhớ kinh nghiệm xương máu: đạo luật ruộâng đấùt ngày 26.10.1917 dưới thời Lenin chuyển giao ruộâng đất cho nông dân sử dụng vĩnh viễn, thế mà 12 năm sau những người cộng sản lấy lại ruộng đất, lùa nông dân vào nông trang tập thể và quyền „sử dụng vĩnh viễn“ tiêu biến! Nông dân Liên Xô không muốn nhận „món quà“ đó của Gorbachev vì họ biết rõ trong điều kiện „xã hội chủ nghĩa“, người thuê ruộng đất làm ăn riêng bao giờ cũng bị miệt thị, và cuối cùng bị dày xéo. Hơn nữa, không có thị trường, không có thương nghiệp bán sỉ, không có khả năng mua máy móc, phân bón mà phải nhờ vả vào nông trang tập thể hay nông trường quốc doanh thì - như lời nông dân nói - „chẳng khác nào quàng thòng lọng vào cổ mình cho chúng nó treo“. Vả lại, nông dân đã thừa hiểu tâm địa của chính quyền cộng sản - hôm nay cho, ngày mai lấy lại.

Gián tiếp công nhận sự thất bại của những cải cách nửa vời trước đây, ngày 28.2.1990, XVTCLX lại tán thành một dự luật mới về ruộng đất, trong đó dự tính cho người dân có quyền nhận mảnh ruộng đất để „sử dụng suốt đời và có thể thừa kế“, nhưng không được bán, không được cho thuê. Ruộng đất đó sẽ do các xô-viết địa phương cấp. Khó khăn chủ yếu là: về pháp lý ruộng đất thuộc về nhà nước, nhưng về thực tế lại không thuộc về nhà nước, vì ruộng đất đã chuyển giao cho các nông trang tập thể và nông trường quốc doanh „sử dụng vĩnh viễn“. Vì thế cho nên các nông trang tập thể và nông trường quốc doanh có muốn giao lại cho „người cá thể“ hay không là thuộc quyền của họ. Nông dân không tin cả dự luật này nữa.

Khiếp sợ bị tước mất quyền nắm giữ „nền kinh tế chỉ huy tập trung“, Gorbachev cứ loay hoay mãi với việc „perestroika“ công nghiệp, nông nghiệp một cách chắp vá, nửa vời và... vô vọng như vậy, trong lúc đó nền kinh tế khủng hoảng đã đến cao điểm. Gorbachev và ban lãnh đạo cộng sản nhất mực gạt bỏ bao nhiêu kiến nghị đúng đắn của nhiều chuyên gia kinh tế nổi tiếng của Liên Xô, như Shmeliev, Shatalin, v.v... không cho đụng đến vấn đề giá cả và sợ thị trường bung ra... Trong những năm 1988-1991, nền kinh tế Liên Xô hầu như suy sụp, nạn khan hiếm hàng hóa đã trở nên „toàn bộ“ (total). „Không thể sống như thế này được nữa!“ đã trở thành lời cửa miệng của dân chúng cả nước... Thay vì tiến hành cải cách kinh tế Gorbachev và CTÐ TƯ ÐCSLX lại quyết định đổi tiền có tính chất ăn cướp vào cuối tháng 1.1991: nhà nước không cho lưu hành đồng 50 và 100 rúp nữa, dân chúng bắt buộc phải đổi tiền trong thời hạn mấy ngày và chỉ được đổi 1000 rúp thôi. Số tiền còn lại thế là mất! Mà trước đó, khi phát lương cho công nhân, viên chức thì nhà nước lại đưa loại tiền có giá trị lớn! Người ta giải thích rằng làm thế để giáng một đòn vào bọn mafia và đầu cơ. Ðó là điều dối trá, bịp bợm, vì bọn mafia, bọn đầu cơ từ lâu không còn tích lũy rúp nữa rồi mà chỉ tích lũy vàng và đô la thôi. Kỳ thật đòn này chủ yếu đánh vào nhân dân, tước đoạt trắng trợn tiền của dân thường. Khốn khổ nhất là những người sống bằng tiền hưu, họ phải xếp hàng mấy ngày liền, chen lấn, xô đẩy nhau để được đổi 1000 rúp, nhiều người bất tỉnh, thậm chí bị nhồi máu cơ tim chết tại chỗ đổi tiền. Người viết bài này hồi đó đã về hưu nên cũng „được“ nếm mùi chính sách thất nhân tâm đó của tập đoàn thống trị cộng sản Liên Xô. Ðúng là „tiếng kêu dậy đất“, lòng căm phẫn lên cao độ!

Xin nói qua về „glasnost“. Như đã nói trên, khi mới lên cầm quyền bính đất nước, Gorbachev thậm chí không thừa nhận có „khủng hoảng“ ở Liên Xô. Nhưng giới báo chí và các nhà kinh tế vẫn nói đến khủng hoảng, người ta đòi hỏi được công khai, tự do phát hiện vấn đề cho đảng thấy, coi đó là quyền tham gia sinh hoạt của đất nước. Trong tình thế đó, tại một cuộc gặp mặt các nhà báo xô-viết, Gorbachev phải nói đến „glasnost“. Chữ đó buột ra khỏi miệng tổng bí thư thì các nhà báo nắm lấy từ đó, quảng bá rầm rộ, do đó mở đầu thời đại „glasnost“ ở Liên Xô và nhiều nước „xã hội chủ nghĩa“.

„Glasnost“ có từ căn „glas“ là „tiếng nói“, „giọng nói“. Từ „glasnost“ được dùng dưới thời cải cách của Nga hoàng Alexandre II vào những năm 60 thế kỷ 19 với nghĩa „đòi hỏi được công khai, được tham gia sinh hoạt đất nước“. Từ này Lenin và Stalin cũng đã dùng, nhưng dưới thời Gorbachev nó là một đòi hỏi đối với cơ quan nhà nước phải công khai hóa việc nước để dân chúng được tham gia sinh hoạt đất nước, cho nên nó mang sắc thái đấu tranh dân chủ.

Sau khi nắm chức vị tổng bí thư, Gorbachev đặc biệt quan tâm đến việc đề cao uy tín của mình, vì thế ông cố tranh thủ cảm tình của giới ưu tú (élite) trong xã hội. Ðiều này thì chẳng có gì mới lạ, trước đây Stalin cũng làm như thế. Chẳng hạn, khi vừa lên cầm quyền, Stalin đã kiên trì lôi kéo nhà văn Maxime Gorky trở về nước. Nhà văn đã bị Lenin buộc rời khỏi nước Nga hồi mùa thu năm 1921 để đến sống lưu vong ở đảo Kapri (Ý) sau khi ông phê phán vài mặt trong đường lối chính trị của đảng bolshevik. Và hồi năm 1928, khi nhà văn trở về sau cuộc lưu vong bắt buộc bảy năm trời thì đó là thắng lợi to lớn của Stalin. Từ đó, ngôi nhà và biệt thự mùa hè của Gorky trở thành nơi gặp gỡ của Stalin với các giới nhà văn, điện ảnh và sân khấu. Ðể tác động mạnh đến giới ưu tú, Stalin thường dùng các cuộc gặp riêng hoặc gọi điện thoại với các nhân vật nổi tiếng có ảnh hưởng lớn, như với nhà đạo diễn S. Eizenshtein, nhà văn Pasternak và Bulgakov... Khi mới lên cầm quyền, Gorbachev cũng đang cần một hành động có tiếng vang lớn với giới ưu tú trong và ngoài nước, và ông đã học kinh nghiệm của Stalin. Hồi đó, các chính phủ Hoa Kỳ, Anh, Pháp và nhiều nước khác, cũng như công luận trên thế giới và trong nước đang mạnh mẽ đòi trả tự do cho viện sĩ Andrei Sakharov bị lưu đày vô thời hạn ở thành phố Gorky. Gorbachev suy tính dù muốn hay không cũng không thể giam giữ Sakharov mãi, nhất là sau vụ tuyệt thực dài ngày của viện sĩ, nhưng làm thế nào để việc trả tự do có được tiếng vang lớn. Thế là ngày 22.12.1986, Gorbachev quyết định gọi điện cho Sakharov ở Gorky và đề nghị viện sĩ quay trở lại công tác khoa học ở Moskva. Quả vậy, sau cú điện thoại đó uy tín của Gorbachev cả ngoài nước lẫn trong nước đều lên cao.

Vào thời gian này thì „glasnost“ đã lan rất mạnh. Gorbachev và ban lãnh đạo cộng sản rất e ngại, luôn luôn cố đóng khung „glasnost“ trong mức độ cho phép, nhưng họ không thể ngăn cản nổi đà tiến của „glasnost“ được nữa. Các nhà báo, nhà văn dân chủ cầm cờ „glasnost“ đi tiên phong. Trên báo chí cả loại chính trị xã hội, văn học nghệ thuật lẫn loại khoa học nhân văn, khoa học kỹ thuật... đều đua nhau phơi bày „những vết trắng“ (tiếng Nga nghĩa là những vấn đề bị che giấu) của lịch sử, đua nhau bàn luận về những vấn đề của đất nước. Những tờ báo và nhà xuất bản nào càng thể hiện được „glasnost“ bao nhiêu, thì càng được dư luận xã hội ủng hộ mạnh mẽ bấy nhiêu. Sự ủng hộ này biểu hiện ở số lượng phát hành. Chiếm kỷ lục là tờ tuần báo „Argumenty i fakty“ (AiF - Luận chứng và sự kiện) năm 1979 phát hành chỉ có 10 ngàn số, đến đầu năm 1989 tăng lên 22,5 triệu số, đầu năm 1990 - trên 30 triệu số. Tờ „Trud“ (Lao động), nhật báo của hội đồng các công đoàn Liên Xô - 20 triệu số. Những tạp chí có khuynh hướng dân chủ được coi là „hải đăng của glasnost“ như „Ogoniok“ (Ngọn lửa nhỏ), „Moskovskie Novosti“ (Tin tức Moskva), „Novyi Mir“ (Thế giới mới), „Znamya“ (Ngọn cờ) dẫn đầu về số lượng đặt mua. Ngay cả báo chí và các nhà xuất bản của ÐCSLX cũng phải chạy đua „đổi mới tư duy“, để có được số lượng phát hành cao. Còn các „Samizdat“ (Tự xuất bản) lúc này phát triển khá mạnh đã tranh thủ thời cơ tung ra thị trường nhiều tác phẩm bấy lâu bị cấm... Thế là trên thị trường sách báo xuất hiện tác phẩm bị cấm chẳng những của các nhà văn, nhà chính trị trong nước, như A.Platonov, M.Bulgakov, B.Pasternak, V.Grossman, N.Bukharin, L.Trotsky..., mà cả của các nhà văn ngoài nước, như Artur Kestler, Georges Orwell... nữa.

Hoảng sợ trước phong trào dân chủ, từ năm 1987, trong các hội nghị của TƯ ÐCSLX đã vang lên tiếng nói đòi „lập lại trật tự“ (nói thẳng là bóp nghẹt tự do) trong ngành báo chí và xuất bản. Gorbachev và ban lãnh đạo ÐCSLX lại thực hiện những bước thụt lùi: đóng cửa tờ „Glasnost“ „bất hợp pháp“ của nhà tranh đấu cho nhân quyền Grigoryans, bắt giam ông này và một số nhà báo „bất hợp pháp“ khác, rồi ăn cướp tên của tờ báo vừa bị đóng cửa để ra tờ „Glasnost“ của ÐCS; cuối năm 1988, ÐCSLX ra quyết định hạn chế số lượng báo chí được đặt mua để giảm bớt ảnh hưởng của những tờ đi tiên phong trong cuộc vận động dân chủ. Bị dân chúng phản đối kịch liệt, cuối cùng ÐCS lại phải hủy bỏ quyết định đó. Cũng trong thời gian này, đạo luật về mít tinh và biểu tình được công bố, trong đó có nhiều điều khoản hạn chế, dân chúng lại phản đối và dần dần phớt lờ những điều khoản đó. Ngày 23.10.1989, HÐBTLX ra nghị định cấm tổ chức hợp tác xã xuất bản, nhưng khi đó phong trào dân chủ lên mạnh rồi thì hầu như không còn ai quan tâm đến nghị định đó nữa. Báo chí, các cơ quan truyền thanh và truyền hình cũøng như các dân biểu và các tổ chức dân chủ còn phải đấu tranh khó khăn lắm thì đến năm 1990 Luật về báo chí mới được ban hành, lần đầu tiên chính thức thừa nhận quyền tự do báo chí. Ðó là thắng lợi rất lớn của phong trào dân chủ ở Liên Xô.

Năm 1989, Gorbachev có lần đã bất bình tuyên bố: „Trong một số cuộc tranh luận, người ta đã nêu vấn đề dường như cái khung xã hội chủ nghĩa đối với „perestroika“ là hẹp. Người ta ngấm ngầm đưa ra tư tưởng về đa nguyên chính trị, về đa đảng và thậm chí về quyền sở hữu tư nhân nữa“. Bất chấp sự chống cự của ban lãnh đạo ÐCS, những tư tưởng đó vẫn thâm nhập vào ý thức xã hội để trở thành sức mạnh lớn đẩy lùi từng bước các thế lực bảo thủ trong ÐCSLX. Khi điều kiện cho phép, các tổ chức dân chủ, báo chí, các nhà trí thức và dân biểu dân chủ đã đồng loạt đòi xóa bỏ điều 6 trong Hiến pháp Liên Xô quy định vai trò lãnh đạo độc tôn của ÐCSLX. Dư luận quần chúng hưởng ứng nhiệt liệt đòi hỏi này. Gorbachev và BCT TƯ ÐCSLX họp bàn nhiều lần, trước đây Gorbachev đã có lần mập mờ nói sẽ xóa bỏ điều 6 , nhưng lần này ông và BCT TƯ lại quyết định bảo vệ đến cùng điều 6 bằng... „kế hoãn binh“. Ngày 20.11.1989, Gorbachev nói trong cuộc họp BCT: „Ðành phải chiến đấu giữ cho được điều 6 của Hiến pháp. Phải giữ quan điểm: đó không phải là vấn đề cứu hỏa, không phải là tình trạng đặc biệt...“ (xem: APRF. Bản ghi chép phiên họp BCT ngày 20.11.1989. Tờ 409). Hai tuần sau BCT lại bàn „kế hoãn binh“. Gorbachev nói: „... chúng ta sẽ nói tại Ðại hội 2 các dân biểu Liên Xô rằng: „Sắp đến đại hội đảng. Tại đó chúng ta sẽ bàn và đưa ra đề nghị sau“ (Như trên. Bản ghi chép phiên họp BCT ngày 8.12.1989. Tờ 529). Ở đây nổi bật con người Gorbachev: nói thì hay ho nhưng không làm. Khi thấy rằng vấn đề điều 6 của Hiến pháp trước sau rồi cũng phải xóa bỏ, BCT TƯ ÐCSLX đã ra nghị quyết đặc biệt „Về một số biện pháp bảo đảm về mặt pháp lý cho sinh hoạt và hoạt động của đảng“. Như vậy là ÐCS và giai cấp nomenklatura đã phòng xa, họ lo trước phải làm sao bảo đảm lâu dài về mặt vật chất cho ÐCS và cho họ trong tương lai. Theo nghị quyết đó, nhiều cơ sở có tính chất của toàn dân, như nhà in, kho lưu trữ, thư viện, nhà an dưỡng... bây giờ làm lại thủ tục để chuyển thành tài sản của đảng. Trong đó có nói mơ hồ đến hoạt động tài chính của đảng (xem: SKHSD - Trung tâm bảo quản tài liệu hiện đại. Biên bản phiên họp BCT 87 ngày 28.5.1990. Tờ 1-5). Chính ở đây là nguồn gốc của vấn đề bí ẩn gọi là „tiền của đảng“ mà chính phủ dân chủ của Nga sau này không thể nào moi ra được, mặc dù ai cũng biết ÐCSLX đã đánh cắp một số tiền lớn của nhân dân để tuồn ra nước ngoài. Do đó, cho đến nay, ÐCS Liên bang Nga là tổ chức chính trị giàu có nhất ở Nga.

Tình hình nội bộ của ÐCSLX ngày càng phân hóa nghiêm trọng. Trong quá trình chuẩn bị hội nghị toàn quốc lần thứ 9 của đảng (6.1988), một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cánh cấp tiến và cánh bảo thủ đã diễn ra trong đảng. Cánh cấp tiến đưa ra „Cương lĩnh dân chủ“ và vô hình trung hình thành phái „Cương lĩnh dân chủ trong ÐCSLX“ với những nhân vật rất nổi tiếng hồi đó: cựu ủy viên BCT B.Yeltsin (sau này được bầu làm chủ tịch Chủ tịch đoàn xô-viết tối cao Liên bang Nga, rồi tổng thống Nga), G. Popov(sau này được bầu làm thị trưởng Moskva), A. Sobchak (sau này được bầu làm thị trưởng Sankt Peterburg), S.Stankievich (sau này được bầu làm phó thị trưởng Moskva), Filippov (sau này được bầu làm phó thị trưởng Sankt Peterburg), Y. Afanasiev, Gdlyan, Ivanov, v.v... Họ đòi phải dân chủ hóa ÐCS và dân chủ hóa xã hội. Ðòi ÐCS phải loại bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ thay bằng nguyên tắc dân chủ. Ðòi phải tôn trọng nguyên tắc liên bang, đòi bỏ chế độ bí thư thứ hai các ÐCS các nước cộng hòa liên bang phải là người Nga do TƯ ÐCSLX trực tiếp cử về, đòi phục hồi lại tổ chức của ÐCS Nga với tính cách là một tổ chức riêng của nước Nga. Ðể đối lập với phái „Cương lĩnh dân chủ“, một phái bảo thủ đưa ra „Cương lĩnh mác-xít“, nhưng phái này khá mờ nhạt, cuối cùng đã chết yểu.

Dù bị cánh bảo thủ kịch liệt chống lại, nhưng hội nghị toàn quốc lần thứ 9 đã quyết định bầu cử dân chủ các cấp lãnh đạo của đảng và nhà nước. Trong hội nghị đó, Gorbachev đã chống lại đề nghị tách đảng khỏi chính quyền, mà chủ trương bí thư thứ nhất ÐCS ở các cấp phải đồng thời là chủ tịch xô-viết các cấp đó, còn ở trung ương thì tổng bí thư phải đồng thời là nguyên thủ Liên Xô. Nhưng đã xảy ra những thực tế rất bẽ bàng đối với ÐCS: có một số bí thư tỉnh ủy, quận ủy không được cử tri tín nhiệm bầu làm dân biểu xô-viết hoặc các dân biểu xô-viết không chịu bầu bí thư tỉnh ủy làm chủ tịch xô-viết! Các bí thư tỉnh ủy đã hai lần giận dữ phản đối TƯ và đòi hoãn ngay các cuộc bầu cử dân biểu xô-viết vì sợ mất „chiếc ghế“ quyền lực, có bí thư tỉnh ủy nói thẳng: bầu cử để dân chúng người ta moi ra tình trạng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong đảng hay sao? Trong sử sách, người ta gọi là hai „cuộc nổi loạn“ của các bí thư tỉnh ủy. Nên sau đợt bầu cử đầu tiên, TƯ đã tạm hoãn đợt bầu cử tiếp theo. Còn ở cấp toàn liên bang thì hồi tháng 3.1990, Ðại hội dân biểu Liên Xô đã bầu Gorbachev làm tổng thống Liên Xô.

Do đấu tranh của quần chúng đảng viên Nga, lần đầu tiên sau trên sáu thập niên, ÐCSLX phải chấp nhận cho Ðảng cộng sản Nga (ÐCSN) có tổ chức riêng và ban lãnh đạo riêng. Nhưng, việc tái lập ÐCSN, cũng như sau này việc toàn dân bầu B. Yeltsin làm tổng thống Nga (12.6.1991) là một triệu chứng báo hiệu sự cáo chung khó tránh khỏi của chế độ cực quyền xô-viết và sự tan rã của Liên Xô, vì trên thực tế đã xuất hiện „tình trạng hai quyền lực cùng tồn tại“ trong lúc sức ly tâm ở các nước cộng hòa ngày càng mạnh mà Trung tâm (chính quyền liên bang) thì ngày một suy yếu.

Gorbachev và những người chủ trương „perestroika“ cố lách giữa lực lượng cấp tiến và cánh bảo thủ nhất chống lại „perestroika“. Ðể chống lại áp lực mạnh của cánh bảo thủ, hồi tháng 4.1989, Gorbachev đã đưa ra khỏi TƯ ÐCSLX một lúc 110 ủy viên, phần đông là già cả, bảo thủ, nhưng vì „perestroika“ cứ giẫm chân tại chỗ mãi, nên thế lực bảo thủ trong đảng ngày một mạnh thêm.

Như đã nói trên, do sức ép của phong trào dân chủ, tháng 1.1987, TƯ ÐCSLX buộc phải chấp nhận „trò chơi“ dân chủ: họ quyết định lập ra một cơ chế mới gọi là Ðại hội dân biểu Liên Xô và cho tiến hành bầu cử các dân biểu Ðại hội đó vào tháng 4.1989. Họ tin tưởng là với đạo luật bầu cử dân biểu của XVTCLX do họ đã nắm chắc, thì chỉ có những người do ÐCS chọn mới trúng cử dân biểu, do đó Ðại hội dân biểu Liên Xô sẽ là một tổ chức ngoan ngoãn của đảng và chỉ có tác dụng tượng trưng. Nhưng những người dân chủ không bỏ lỡ cơ hội, đã biến cuộc bầu cử dân biểu thành một cuộc vận động dân chủ lớn lao có tác dụng thức tỉnh đại chúng. Các cử tri Liên Xô đã tỏ rõ tính tích cực chính trị rất cao: trên 172 triệu người, tức là khoảng 90%, đã đi bỏ phiếu. ÐCS tìm mọi cách để những ứng cử viên dân chủ không thể trúng cử được, nhưng một số người dân chủ đã thắng cử vẻ vang, như Yeltsin (được 92% phiếu bầu), Sakharov, Sobchak, Popov, v.v... Trong tổng số hai ngàn rưỡi dân biểu, những người dân chủ cấp tiến chỉ chiếm được khoảng 40 ghế, phần đông là những đảng viên thuộc cánh „Cương lĩnh dân chủ“. Các dân biểu dân chủ tập hợp với nhau thành Nhóm dân biểu liên vùng (tiếng Nga viết tắt là MDG), gồm những nhân vật nổi tiếng, như viện sĩ Sakharov, Yeltsin, Popov, Sobchak, Afanasiev, Stankievich, Filippov, Gdlyan, Ivanov, v.v... Dù số lượng dân biểu trong MDG chỉ chiếm khoảng 1,6% trong tổng số dân biểu, nhưng họ là trung tâm phối hợp đấu tranh trong nghị trường và ngoài quần chúng, nên đã gây được tiếng vang lớn và tạo được sức ép mạnh đối với đa số bảo thủ trong Ðại hội dân biểu Liên Xô. Hơn nữa MDG ngày càng thu hút thêm những dân biểu đồng tình. Ðại hội đã buộc chấp nhận cho truyền thanh truyền hình tại chỗ toàn bộ kỳ họp đầu tiên bắt đầu từ ngày 25.5.1989. Mười ba ngày từ sáng đến tối các dân biểu họp, còn toàn dân Liên Xô chăm chú theo dõi các cuộc tranh cãi. Trên diễn đàn Ðại hội, đã phơi bày ra tất cả những tai họa của xã hội và vô số vấn đề của đất nước mà chế độ cực quyền bấy lâu cấm không được nói đến. Tính chất thẳng thắn và gay gắt của những cuộc tranh luận gieo vào lòng người dân niềm hy vọng sẽ có sự đổi thay của xã hội. Cuộc đấu tranh nghị trường căng thẳng, sự nhiệt thành cũng như lập luận có lý lẽ của các dân biểu dân chủ tương phản với thái độ ngoan cố của „cái đa số bảo thủ thầm lặng“ trong Ðại hội chỉ biết bỏ phiếu theo „gậy chỉ huy“ của cấp trên. Tất cả những cái đó người dân được nhìn tận mắt, nghe tận tai chính là một trường học chính trị to lớn làm thức tỉnh ngay cả những lớp người bấy lâu thờ ơ về chính trị.

Cùng với tinh thần dân chủ lên cao, ý thức dân tộc đã trỗi dậy mạnh mẽ làm bộc lộ biết bao vấn đề dân tộc trầm trọng trong Liên bang, tạo nên những nứt rạn sâu sắc của chế độ nhà nước xô-viết. Ngay người dân Nga, dân tộc đa số đã đóng góp nhiều nhất cho sự tồn tại và phát triển của Liên Xô, cũng cảm thấy bị tước mất chủ quyền và đoạt hết quyền lợi bởi tập đoàn thống trị toàn liên bang. Các cơ quan quyền lực của nước Nga chỉ có tính chất tượng trưng, nước Nga thậm chí không có ÐCS riêng. Còn các dân tộc khác không phải người Nga thì càng cảm thấy sâu sắc quyền lợi của họ bị xâm phạm. Thế mà đến cuối năm 1987, Gorbachev vẫn cứ khẳng định: „Ở nước ta, vấn đề dân tộc đã giải quyết xong“. Trong lúc đó, đã xảy ra nhiều vụ đàn áp đẵm máu chống phong trào dân tộc, ở Alma Ata (tháng 12.1986), ở Tbilissi, Sumgait (hè 1989), ở Baku, Vilnus, Riga (đầu năm 1990)... Nhiều vụ xung đột dân tộc ác liệt ở vùng Caucase, ở Ferganskaya Dolina, Novyi Uzel... làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, hàng ngàn ngôi nhà bị cướp phá... Ðến tháng 9.1989, Gorbachev mới chịu nhận là „có những vấn đề dân tộc không giản đơn“!

Tại Ðại hội dân biểu Liên Xô, nhiều người đã đòi phải điều tra những vụ đàn áp đẵm máu các phong trào dân tộc dưới thời „perestroika“, như ở Tbilissi và Sumgait, đòi phải công khai hóa Hiệp ước Robentrov-Molotov là hiệp ước đã dọn đường cho phát xít Ðức đánh chiếm Ba Lan và Liên Xô thôn tính ba nước vùng Baltic. Sau khi Moskva buộc lòng phải thừa nhận Hiệp ước Robentrov-Molotov là một hành động tội ác thì không thể phủ nhận được tính chất chính đáng của việc ba nước Baltic ra khỏi Liên Xô. Gorbachev vẫn ra sức chống chế nhưng tháng 3.1990, Lituania (tiếng Nga: Litva) chính thức tuyên bố độc lập và ra khỏi Liên Xô. Ngày 3.4.1990, Gorbachev ký đạo luật „Về thủ tục giải quyết những vấn đề liên quan đến việc các nước cộng hòa liên bang ra khỏi Liên Xô“ để ngăn chặn các nước khác rút ra. Nhưng không ăn thua, tháng 5.1990, hai nước Baltic còn lại là Latvia, Estonia cũng noi gương Lituanie. Ngày 12.6.1990, nước Nga cũng tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình nhưng vẫn ở trong Liên bang. Tiếp theo đó, các nước cộng hòa liên bang khác cũng noi gương Nga. Ý hướng ly tâm trong các dân tộc lúc này rất mạnh, tất cả các nước đều cảm thấy chật chội trong „ngôi nhà“ Liên Xô được dựng lên theo những nguyên tắc tập quyền cao độ thời Lenin, Stalin. Người ta đòi phải soạn thảo lại Hiệp ước Liên bang mới, đòi phải tôn trọng chủ quyền của các nước cộng hòa, đòi thay nguyên tắc fédération (liên bang) bằng nguyên tắc confédération (hợp bang) để mở rộng quyền hạn cho các nước cộng hòa, đòi phải áp dụng nguyên tắc tự quản cho các vùng địa lý-hành chính. Gorbachev và TƯ ÐCSLX tìm mọi cách chống lại trào lưu chung đó, không chống nổi thì trì hoãn. Ðể dùng pháp lý ngăn chặn sự tan vỡ của Liên Xô, ÐCSLX bày ra cuộc trưng cầu dân ý về việc duy trì Liên bang với mấy câu hỏi rất lắt léo để cử tri phải trả lời: tán thành. Nhưng dù muốn hay không, cuối cùng Gorbachev và ban lãnh đạo ÐCSLX cũng phải đồng ý soạn thảo lại Hiệp ước Liên bang mới. Việc soạn thảo Hiệp ước này là cả một quá trình đấu tranh rất gay go. Gorbachev và BCT TƯ ÐCSLX cố giữ nguyên tắc trung ương tập quyền, nhưng các nước không đồng ý. Tình hình có khi căng thẳng đến mức tổng thống Gorbachev mời 9 người đứng đầu các nước trong Liên Xô ngày 23.4.1991 đến bàn về Hiệp ước liên bang thì 6 nước không đến họp. Trong tình thế đó Yeltsin lại cùng hợp tác với Gorbachev soạn thảo Hiệp ước Liên bang để mong cứu vãn Liên Xô khỏi tan vỡ. Ðến giữa năm 1991, dự thảo đã nới rộng quyền cho các nước cộng hòa theo nguyên tắc confédération thì 9 nước (trừ 3 nước vùng Baltic) đồng ý ký kết Hiệp ước Liên bang mới. Nhưng Gorbachev lại không tổ chức lễ ký kết ngay mà đi nghỉ hè và định vào ngày 21.8.1991 mới ký kết! Tại sao đã thỏa thuận rồi mà Gorbachev không ký ngay lại bỏ đi nghỉ hè? Ðó là một câu hỏi lớn nhiều người đã đặt ra. Theo dõi những sự kiện tiếp sau có thể giúp ta tìm thấy câu trả lời gián tiếp.

Trong lúc Gorbachev đang nghỉ cùng gia đình ở Foros (Crimée), một nhóm trong BCT TƯ ÐCSLX đứng đầu là Kriushkov đứng ra tổ chức cuộc đảo chính vào ngày 19.8.1991 (nói đúng ra, đây không phải là một cuộc đảo chính - coup d’ état, mà là một cuộc âm mưu - complot) sau khi đã điều quân vào Moskva và Sankt Peterburg. Nhóm cầm đầu đảo chính mang tên là“Ủy ban nhà nước về tình trạngđặc biệt“ (GKCHP) gồm toàn những cộng sự thân tín của Gorbachev ở trong BCT TƯ và chính phủ Liên Xô: phó tổng thống Liên Xô G. Yanaev làm chủ tịch, các ủy viên là thủ tướng V. Pavlov, chủ tịch KGB V. Kriushkov, bộ trưởng quốc phòng nguyên soái D. Yazov, bộ trưởng nội vụ B. Pugo, phó chủ tịch Hộiđồng quốc phòng O. Baklanov, v.v... Mụcđích chính của bọn GKCHP làđánhđổ tổng thống Nga B. Yeltsin và ban lãnhđạo dân chủ nước Nga, xóa bỏ trung tâm quyền lực thứ hai ở Moskva, nên hướng chủ công là „Nhà Trắng“, trụ sở của XVTC Cộâng hòa liên bang xã hội chủ nghĩa xô-viết Nga hồiđó.
Thật ra, Gorbachev được báo trước về cuộc âm mưu đó, và việc ông làm như tuồng bị cô lập ở Foros chỉ là một màn kịch vụng về. Yeltsin và những người lãnh đạo dân chủ đã kịp thời kêu gọi dân chúng Moskva, cũng như các thành phố lớn khác khắp nước vùng dậy chống lại quân đảo chính. Khí thế đấu tranh của dân chúng bừng bừng, hàng chục vạn người ở Moskva xông lên dựng chiến lũy bảo vệ quanh „Nhà Trắng“, hoặc đổ xô ra đường ngăn cản quân đội, vận động binh lính, tạo nên một chuyển biến về tinh thần trong quân đội. Tướng Shaposhnikov, tư lệnh không quân, và tướng Grachov, tư lệnh bộ đội nhảy dù tuyên bố không tuân lệnh của bộ trưởng quốc phòng Yazov. Một số chiến xa chạy sang phe dân chủ đến bảo vệ „Nhà Trắng“. Có tin là chủ tịch KGB V. Kriushkov ra lệnh cho tướng V. Karpukhin chỉ huy trưởng đội „Alpha“ là đội quân đặc nhiệm tinh nhuệ nhất phải chiếm „Nhà Trắng“ lúc 3 giờ đêm 20.8, nhưng đội này từ chối không chịu thi hành lệnh. Thế là cuộc đảo chính nhanh chóng thất bại, các lực lượng dân chủ thừa thắng xông lên chiếm lĩnh ngay trụ sở TƯ ÐCSLX cũng như trụ sở các thành ủy, tỉnh ủy và các đảng bộ địa phương khác. Người ta niêm phong các kho lưu trữ mật, truy tìm tiền của ÐCS... Tổng thống Nga ra lệnh cấm ÐCSLX trong thời gian điều tra vụ đảo chính này và tạm thời đình bản báo Pravda. Dân chúng căm phẫn hạ tượng các lãnh tụ bolsheviks. Tượng trùm công an mật vụ F. Dzerzhinsky trên một quảng trường lớn ở trung tâm Moskva trước trụ sở KGB bị hạ trước tiên. Hàng chục ngàn đảng viên cộng sản vứt thẻ đảng. Bằng cuộc đảo chính, bọn bảo thủ trong ban lãnh đạo Liên Xô đã đẩy ÐCSLX vào con đường tự sát, điều đó dẫn đến sự sụp đổ không thể tránh khỏi của nhà nước xô-viết.

Chính lúc này, Yeltsin và những người lãnh đạo dân chủ đã phạm những sai lầm rất nghiêm trọng để lại hậu quả to lớn về sau là: sau thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ, họ đã không giải tán ngay cơ quan lập pháp của nước Nga (lúc đó là Xô-viết tối cao Liên bang xã hội chủ nghĩa Nga có trên 90% là đảng viên cộng sản), được „bầu“ ra dưới thời thống trị của ÐCSLX theo đạo luật không dân chủ, hoàn toàn bất công cốt giành phần thắng cho ÐCS, không ra đạo luật bầu cử mới thật sự dân chủ để bầu ra một cơ quan lập pháp mới phản ánh đúng tương quan lực lượng mới và phù hợp với nguyện vọng dân chúng, đồng thời họ đã không thanh lọc triệt để hơn bộ máy nhà nước mà đã lưu lại quá nhiều phần tử cộng sản thuộc giai cấp nomenklatura cũ trong bộ máy nhà nước. Những sai lầm nghiêm trọng này đã tạo điều kiện cho ÐCS ngăn cản, phá ngầm (saboter) hầu hết các cuộc cải cách dân chủ do những người dân chủ đưa ra và tạo được tình thế bất ổn định về chính trị sau này, làm cho ÐCS có thể ngóc đầu dậy để chống lại các lực lượng dân chủ một cách mạnh mẽ. Người viết không nói đến những sai lầm khác về thời kỳ hậu cộng sản, nhưng không thể không nói đến hai sai lầm chính trị to lớn trên hồi đó.

Sau đảo chính, dù chính quyền liên bang vẫn còn tồn tại, nhưng vị thế chính trị đã giảm sút hẳn. Các nước cộng hòa liên bang đều chỉ mong có cơ hội thoát khỏi Liên Xô, không còn thiết tha với việc ký kết Hiệp ước Liên bang nữa. Ngày 1.12. 1991, toàn dân Ukraina bầu L. Kravchuk làm tổng thống. Ngày hôm sau 2.12, những người đứng đầu của ba nước dân tộc Slave là tổng thống Nga B. Yeltsin, tổng thống Ukraina L. Kravchuk và chủ tịch Xô-viết Tối cao Belorussia S. Shushkevich họp ở Belovezhskaya pusha và ký Hiệp định Belovezhskoe thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (gọi tắt là SNG) và kêu gọi các nước khác cùng tham gia SNG. Như vậy là Liên bang Xô-viết đã cáo chung, vì thế M. Gorbachev đã từ chức tổng thống Liên Xô ngày 25.12.1991. Thế là đế quốc cuối cùng trên thế giới, đế quốc cộng sản, tồn tại trên 73 năm, được coi là „thành trì cách mạng vô sản toàn thế giới“ đã sụp đổ tan tành. Ðây là chấn động cực kỳ to lớn này làm sụp đổ của cái gọi là „hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới“, làm tan rã toàn bộ PTCSQT.

Cũng giống như Khrutshev trước đây, Gorbachev là một con người đầy mâu thuẫn, cả hai người - mà thế giới thường coi là „nhà cách tân“ - chỉ muốn nới lỏng dây cương một tí cho dân chúng để dân chúng nai sức sản xuất, gỡ thế bí cho ÐCS và cứu vãn chế độ, nhưng lại vừa muốn duy trì đến cùng chế độ cực quyền và quyền lực của giai cấp nomenkletura. Bi kịch của hai người chính là ở đấy, chính ở thái độ không dứt khoát đi theo con đường dân chủ thật sự. Suy cho cùng, „perestroika“, „glasnost“ của Gorbachev cũng như những „cải cách“ của Khrutshev sau đại hội 20 đều chỉ là phương sách để duy trì sự sinh tồn của ÐCS và chế độ cực quyền xô-viết. Nhưng, khác với Khrutshev, Gorbachev cầm quyền ở thời đại mà xu thế dân chủ trên thế giới cũng như phong trào dân chủ ở Liên Xô và các nước „xã hội chủ nghĩa“ khác đã lên mạnh, tạo được sức ép mãnh liệt với ÐCSLX và chế độ cực quyền xô-viết, đến khi bọn bảo thủ định quay ngược bánh xe lịch sử thì phong trào dân chủ đã đánh bại ÐCSLX và làm sụp đổ chế độ cực quyền, ngược hẳn với lòng mong muốn của Gorbachev và tập đoàn thống trị Liên Xô. Dù sao chăng nữa, Gorbachev cũng đã đi vào lịch sử thế giới như một người góp phần chấm dứt chiến tranh lạnh, góp phần phát triển xu thế dân chủ hóa trên thế giới do ông - có ý thức hay không có ý thức - đã tạo điều kiện cho sự sập đổ của chế độ cực quyền cộng sản ở Liên Xô, cũng như sự tan rã của PTCSQT.

Chúng tôi thấy cần nói riêng về những biến động ở các nước „xã hội chủ nghĩa“ Ðông Âu và Mông Cổ hồi cuối năm 1989. Ngoại trừ Nam Tư, phần đông những nước này sau thế chiến thứ hai (riêng Mông Cổ thì từ năm 1921) đều bị tập đoàn thống trị cộng sản Liên Xô quàng lên cổ họ một chế độ chính trị mà đại đa số dân chúng không muốn, trừ những kẻ thống trị ở các nước đó, phần đông là tay chân của Liên Xô. Chính vì thế cứ mỗi lần ở „chính quốc“ có những biến động thì ở các „thuộc quốc“ đều lợi dụng cơ hội dấy lên phong trào dân tộc giải phóng và dân chủ. Sau đại hội 20 ÐCSLX, nhân dân Ba Lan, Hungarie đã đứng lên đòi giải phóng (1956), và sau đó Tiệp Khắc cũng đã mưu toan tự cải biến chế độ xã hội của mình (1967-1968). Còn khi ở Liên Xô diễn ra „perestroika“ và „glasnost“, nhân dân ở các nước „xã hội chủ nghĩa“ Ðông Âu càng không bỏ lỡ cơ hội. Cố nhiên, do bản năng tự vệ nên những tập đoàn thống trị ở các nước này đều ra sức chống lại và cố siết chặt nền thống trị của chúng, nhưng vì ở „chính quốc“ „perestroika“ và „glasnost“ đã là chính sách nhà nước nên tập đoàn thống trị ở các „thuộc quốc“ không thể quá mạnh tay đối phó đối với phong trào dân chủ. Chính từ cái kẽ hở đó mà phong trào dân chủ ở các nước này đã bùng lên mạnh mẽ vào cuối thập niên 80.

Ở Ba Lan, sau những lần bị đàn áp khốc liệt và cấm đoán ngặt nghèo, Công đoàn „Ðoàn Kết“ của Lech Walesa vẫn đứng vững, cuối cùng, khi ÐCS Ba Lan lâm vào thế bí, Yaruzelski làm đảo chính, thiết lập tình trạng đặc biệt, nhưng tình hình vẫn bế tắc, cuối cùng đành phải hợp pháp hóa Công đoàn „Ðoàn Kết“ và ngày 5.5.1989 phải đồng ý mở hội nghị „bàn tròn“ giữa chính phủ và Công đoàn „Ðoàn Kết“. Hai bên thỏa thuận tổ chức cuộc tuyển cử dân chủ ở Ba Lan vào ngày 18.6. Trong cuộc tuyển cử đó, Công đoàn „Ðoàn Kết“ đã thắng lớn, nên ngày 24.8, luật sư Tadeusz Mazowieski, một lãnh tụ của Công đoàn „Ðoàn Kết“, đã lên làm thủ tướng. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử, ở nước cộng sản có một chính phủ không cộng sản điều hành việc nước, mở đường cho việc dân chủ hóa Ba Lan.

Hungarie là nước mà ÐCS phải chấp nhận chế độ đa đảng sớm nhất trong „phe xã hội chủ nghĩa“, vào ngày 11.2.1989. Ðến ngày 2.5, theo thỏa thuận Helsinki, chính phủ Hungarie bắt đầu phá gỡ „bức màn sắt“ ở vùng biên giới với Áo, đến ngày 13.6, chính phủ mở hội nghị „bàn tròn“ với phe đối lập Hungarie, sau đó, chính thức làm lễ an táng Imre Nagy, thủ tướng chính phủ Hungarie bị giết năm 1958 sau cuộc khởi nghĩa nhân dân hồi năm 1956. Từ ngày 10.9, biên giới Hung - Áo được mở tự do và gần một tháng sau, ngày 7.10, ÐCS Hungarie đổi thành Ðảng xã hội Hungarie tuyên bố xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và chuyên chính vô sản. Cuối cùng, Hungarie đã khẳng định nền độc lập của mình.

Ở Ðông Ðức, tình hình ngày càng rối ren, nhưng ban lãnh đạo ÐCS vẫn mù quáng và điếc đặc trước mọi đòi hỏi của dân chúng, họ vẫn cố bám những giáo điều cũ rích, đến khi các cuộc biểu tình quần chúng rầm rộ nổ ra ở những thành phố lớn, như Berlin, Dresden, Leipzig, thì ngày 18.10.1989, Erich Honecker, 76 tuổi, „lãnh tụ“ bảo thủ nhất trị vì 18 năm, bị gạt ra khỏi cương vị bí thư thứ nhất. Ðầu tháng 9, khi biên giới Hung - Áo được mở tự do, thanh niên, cán bộ, chuyên gia, thợ lành nghề... ùn ùn vượt biên, chỉ trong vòng một tháng mà có đến trên 65000 người bỏ sang Tây Ðức. Tiếp đến, ngày 4.11, cuộc biểu tình vĩ đại một triệu người đã bùng nổ tại Ðông Berlin với yêu sách đòi bầu cử tự do, chế độ đa đảng, giải tán tổ chức mật vụ Stasi và tự do báo chí. Cuộc biểu tình đó làm cho ban lãnh đạo của ÐCS và chính phủ phải từ chức ngày 8.11 để lập ra một chính phủ liên hiệp trong khi chờ tổ chức bầu cử. Nhưng ngày hôm sau (9.11) các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn và bức tường Berlin đã sụp đổ đồng thời với chế độ „xã hội chủ nghĩa ưu việt“ ở Ðông Ðức. Sự kiện này có ý nghĩa vừa chính trị, vừa tượng trưng lớn lao. Bức tường Berlin bằng bê tông cốt thép dài 165,7 kilomet để nhốt dân chúng trong chế độ „một triệu lần dân chủ hơn các nước tư bản“ và để ngăn chặn ảnh hưởng „độc hại“ của các nước đế quốc tư bản đã sụp đổ tanh tành làm rung chuyển toàn bộ „hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới“ và PTCSQT. Sự sụp đổ chế độ „xã hội chủ nghĩa“ ở Ðông Ðức đã tạo điều kiện cho nước Ðức thống nhất một cách hòa bình. Liên Xô cũng đã chấp nhận cho nước Ðức thống nhất, hay nói đúng hơn là nước Ðức, mà thủ tướng Helmut Kohl đại diện, đã mua được ở Liên Xô sự thống nhất đất nước mình.

Ở Bungarie, do tác động mạnh mẽ của phong trào dân chủ, ngày 9.11.1989, T.Zhivkov, 78 tuổi, kẻ nắm quyền lâu đến 35 năm trời ở Bungarie, đã bị hạ bệ. Người kế nhiệm ông ta là Petar Mladenov đã tuyên bố chế độ đa nguyên, tổ chức bầu cử tự do và hủy bỏ vai trò lãnh đạo độc tôn của ÐCS. Những biện pháp đó đã tránh cho nước Bungarie những cuộc biểu tình lớn không thể kiểm soát nổi.

Tình hình Rumanie thì phức tạp hơn, vì năm 1989 nền chuyên chế của «lãnh tụ» cộng sản N. Ceaucescu, 71 tuổi, nắm quyền đã 24 năm, bề ngoài trông vẫn còn tương đối ổn định: tại đại hội 14 của ÐCS Rumanie, 3083 đại biểu đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh đến trên 30 lần bài diễn văn bế mạc của «lãnh tụ» Ceaucescu. Ba tuần lễ sau, một cuộc biểu tình lớn ở vùng Timisoara (miền Tây Rumanie) nổ ra để phản đối việc công an bắt một mục sư Tin Lành người Hungarie thiểu số. Securitate (tổ chức công an mật vụ) đã dùng xe tăng đàn áp đẵm máu cuộc biểu tình đó, làm dân chúng nổi giận, nhiều cuộc biểu tình tự động bùng lên trong nhiều thành phố, kể cả ở Bucarest. Từ Iran trở về, Ceaucescu tổ chức một cuộc mít tinh lớn 10 vạn người để vạch mặt bọn «phát xít» ở Timisoara, nhưng trong cuộc mít tinh đó bỗng dưng xảy ra lộn xộn và náo động... Vài trăm sinh viên đã dũng cảm hô khẩu hiệu «Ðả đảo Ceaucescu!», «Ðả đảo bọn giết người!». Lợi dụng khi tình hình trong nước đang khó khăn, mà không có một phái dân chủ đối lập mạnh, nên những kẻ trong bộ máy cai trị đã làm đảo chính cung đình, lật đổ Ceaucescu. Ngày 22.12, Ceaucescu cùng vợ chạy trốn, một Mặt trận cứu nước ra đời đã đưa Ion Iliescu lên nắm quyền. Quân đội đoàn kết với quần chúng biểu tình, trong lúc đó thì bọn Securitate lại tàn sát dân chúng nổi dậy. Ngày 22.12, Ceaucescu đã bị giết. Khác với các cuộc cách mạng hòa bình ở các nước khác ở Ðông Âu, cuộc đấu tranh của nhân dân Bucarest, thủ đô Rumanie, đặc biệt đẵm máu mà không mang lại kết quả như ý.

Ðặc biệt đáng nói là ở Tiệp Khắc, nơi 22 năm trước đã xuất hiện Mùa Xuân Praha và 12 năm trước đã nảy sinh phong trào Hiến chương 77 của trí thức. Hiến chương 77 đã lôi cuốn nhiều tầng lớp dân chúng rộng rãi, nên dù bị đàn áp, nhưng phong trào không hề ngừng nghỉ. Ðến khi cuộc khủng hoảng chế độ «xã hội chủ nghĩa» lên đến cao độ thì Hiến chương 77 đã huy động được cuộc biểu tình của hàng chục vạn dân Praha trên quảng trường Venceslas đòi thực hiện chế độ dân chủ, cách chức những người lãnh đạo cộng sản và bầu cử tự do. Bị sức ép mạnh mẽ của phong trào dân chủ, ngày 24.11.1989, toàn ban lãnh đạo ÐCS phải từ chức và bảy ủy viên BCT bị khai trừ ra khỏi đảng. Cuối cùng, «cuộc cách mạng nhung» đã nhẹ nhàng chuyển chính quyền vào tay phe dân chủ đối lập: ngày 29.12, Vaclav Havel, cựu tù nhân chính trị của chế độ cộng sản, được bầu làm tổng thống nước Cộng hòa Tiệp Khắc, còn Alexandre Dubcek, cựu lãnh tụ Mùa Xuân Praha, được bầu làm chủ tịch Quốc hội. Từ đó, Tiệp Khắc trở thành một nước dân chủ.

Ðến lượt Mông Cổ, Albanie cũng nổi dậy vứt bỏ chế độ cực quyền cộng sản. Liên bang Nam Tư «xã hội chủ nghĩa» bị sức ép của phong trào dân tộc và dân chủ đã tan rã, tuy vậy cũng có nơi bọn bảo thủ trong ÐCS vẫn nắm giữ quyền lực, chẳng hạn ở Serbia. Sau khi liên bang tan rã, tấn bi kịch của Nam Tư là cuộc nội chiến đẵm máu đã gây ra bao nhiêu tai họa cho nhân dân và tạo nguy cơ lớn cho hòa bình và ổn định chẳng những ở vùng Balkan mà cả cả châu Âu nữa.

Chúng tôi thấy cần nhắc lại rằng, ở Ðông Aâu và nhiều nước cộng hòa trong Liên Xô, phong trào dân chủ hồi đó đều mang thêm sắc thái đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi sự phụ thuộc xô-viết. Chính nhờ sự kết hợp đó, phong trào có khả năng lôi cuốn đông đảo nhân dân và tạo nên sức mạnh lớn lao thuận lợi cho việc làm sụp đổ các chế độ độc tài đảng trị.

Như vậy là sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Ðông Âu hồi cuối năm 1989, kéo theo sự giải thể ngày 28.6.1991 của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV, Comecom) đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phá sản của ÐCSLX hồi tháng 8.1991 và sự tan rã hoàn toàn hồi tháng 12.1991 của Liên bang Xô-viết, hạt nhân của toàn bộ PTCSQT.

Người viết thấy cần đặc biệt nói đến tình hình Trung Quốc, một nước «xã hội chủ nghĩa» khổng lồ ở châu Á nằm sát sườn Việt Nam, có ảnh hưởng rất lớn đến nước ta. Sau khi nắm được chính quyền trên toàn Hoa lục (1949), trong suốt 30 năm đầu, ÐCSTQ đã áp dụng nguyên xi mô hình kinh tế chính trị staliniste của Liên Xô, tức là một chế độ cực quyền đảng trị khắc nghiệt cộng với nền kinh tế chỉ huy nghiêm ngặt. Không những thế, Mao Trạch Ðông còn bày ra những cuộc vận động cực kỳ phiêu lưu, như «Công xã nhân dân», «Ðại nhảy vọt» (1958) «Ðại cách mạng văn hóa» (1966-1976) làm đảo lộn cả chế độ chính trị lẫn nền kinh tế của đất nước. Sau khi chết (1976), Mao đã để lại một nước Trung Quốc hoàn toàn lụn bại và kiệt quệ.

Một giai đoạn mới bắt đầu ở Trung Quốc khi Ðặng Tiểu Bình quay trở lại nắm quyền hồi năm 1978. Tiếp đến, tháng 11.1978, những «báo chữ lớn» xuất hiện ở Bắc Kinh với những lời tố cáo và đòi hỏi tự do của người dân, người ta gọi đó là «Bức tường dân chủ». Chính trên «Bức tường» này, ngày 5.12.1978 đã công bố bài «Không thể hiện đại hóa, nếu thiếu dân chủ» của Ngụy Kính Sinh. Lúc này họ Ðặng tạm thời làm ngơ trước đòi hỏi dân chủ, vì ông ta muốn lợi dụng những lời tố cáo và đòi hỏi này của dân chúng để triệt hạ đối thủ trong ban lãnh đạo đang cản trở đường lối cải cách của ông. Tháng 12.1978, theo đề nghị của họ Ðặng, hội nghị lần thứ 3 khóa 11 của TƯ ÐCSTQ đã đưa ra đường lối khôi phục và phát triển nền kinh tế đất nước. Ðiều chú ý trước tiên là lĩnh vực nông nghiệp: người ta đã dần dần giải thể các công xã nhân dân nhằm cởi trói cho nông dân để họ tăng gia sản xuất nông nghiệp và tự cải thiện đời sống, đồng thời chính phủ sửa đổi giá cả nông phẩm có tính chất khuyến khích sản xuất. Ðây là một chính sách khôn ngoan, giảm nhẹ những khó khăn lớn trong đời sống của trên 80% dân số đất nước bằng chính bàn tay và nhiệt tình của nông dân, do đó làm dịu bớt tình trạng căng thẳng ở nông thôn hồi đó. Tiếp đến, người ta quan tâm đến khu vực phục vụ vốn bị bỏ phế hàng chục năm trước đấy, khuyến khích các ngành sản xuất công nghiệp nhẹ, quan tâm đến việc xuất khẩu hàng hóa, nhờ đó tạo được công ăn việc làm cho hàng chục triệu người. Ðến đầu thập niên 80, chính sách cải tổ kinh tế và xã hội của Ðặng Tiểu Bình đã khá mạnh bạo: một mặt, đưa ra khẩu hiệu «hãy làm giàu» để khuyến khích dân chúng trong nước phát huy sáng kiến và tính năng động để tăng sản xuất, tự giải quyết công ăn việc làm; mặt khác, mở cửa đón nhận đầu tư ngoại quốc vào các ngành kinh tế; đưa nền kinh tế đất nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhằm thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa, v.v... Trung Quốc đã ra luật đầu tư khá hấp dẫn đồng thời thành lập ba khu kinh tế đặc biệt ở hai tỉnh Quảng Ðông và Phúc Kiến (1980) và sau đó được mở rộng ra ở 14 thành phố miền duyên hải để thu hút đầu tư ngoại quốc. Nhờ đó từ năm 1980 đến 1998, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng mạnh, nạn đói ở nông thôn giảm hẳn, tổng sản lượng quốc nội (GDP) hàng năm tăng trung bình 9%, chủ yếu nhờ 150 tỷ USD đầu tư ngoại quốc đã được bỏ vào nền kinh tế Hoa lục. Ðó là thành quả to lớn thay đổi rõ bộ mặt Trung Quốc, nâng cao vai trò Trung Quốc trên thế giới. Dù vậy, so với Ðài Loan với 22 triệu dân, thì Trung Quốc vẫn còn kém xa, vì lợi tức đầu người ở Ðài Loan 17 lần cao hơn lợi tức dân Hoa lục: 13000 USD so với 750.

Có điều đáng nói là trong lúc cải cách và mở cửa kinh tế như vậy, ÐCSTQ vẫn bám chặt chế độ độc tài toàn trị, không chịu cải cách về chính trị và mở rộng dân chủ. Chính vì thế, «Bức tường dân chủ» Bắc Kinh tồn tại không lâu, chỉ mấy tháng sau nhà dân chủ nổi tiếng Ngụy Kính Sinh bị bắt. Còn đến tháng 2.1986, khi tổng bí thư ÐCSTQ Hồ Diệu Bang đưa ra những đề nghị cải tổ chính trị thì do sức ép của họ Ðặng, sau vài tháng, những đề nghị đó bị đình hoãn. Tuy vậy phong trào dân chủ vẫn ngấm ngầm và lan rộng trong dân chúng: tháng 12.1986, các trường đại học ở tỉnh An Huy đã phản đối việc bầu cử không dân chủ trong các trường ấy, phong trào này nhanh chóng lan truyền ra 19 thành phố khác. Tiếp đến tháng 1.1987, hơn 3000 sinh viên biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn với khẩu hiệu «Dân chủ muôn năm!». Họ Ðặng đã ra lệnh đàn áp ngay, đồng thời làm áp lực cách chức tổng bí thư của Hồ Diệu Bang, đưa Triệu Tử Dương lên thay. Cuộc đấu tranh của sinh viên đã thúc đẩy nhiều tầng lớp dân chúng đứng lên hồi đầu năm 1989. Nhiều giáo sư, nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ đã tham gia phong trào. Nhà vật lý học Phương Lệ Chi đã viết thư đòi hỏi giới cầm quyền trả tự do cho các tù nhân chính trị, trong đó có Ngụy Kính Sinh. Ðòi hỏi đó được 42 nhà khoa học và 38 nhà trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng của Trung Quốc hưởng ứng. Nhân dịp Hồ Diệu Bang từ trần ngày 15.4.1989, sinh viên Trung Quốc đã tổ chức tưởng niệm ông trên quảng trường Thiên An Môn. Từ đó, những tập hợp dân chủ chuyển dần thành những cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ, chống tham nhũng. Số người tập hợp ngày càng đông, từ vài ngàn người lên dần đến hàng trăm ngàn người với khí thế sục sôi chưa từng thấy. Sinh viên tung ra khẩu hiệu đòi tự do báo chí, dân chủ đa nguyên, trả tự do cho tù nhân chính trị và trừng trị cán bộ đảng viên tham nhũng, hủ hóa... Tập đoàn thống trị cộng sản Trung Quốc hoảng sợ liền điều động quân đội từ Mãn Châu về thủ đô để đàn áp «Mùa Xuân Bắc Kinh». Ðêm 3 rạng ngày 4.6.1989, hàng trăm xe tăng đã xả súng bắn giết hàng ngàn người ngay trên quảng trường. Cuộc tàn sát đẵm máu vô cùng man rợ đó đã gây một làn sóng phản đối quyết liệt khắp thế giới văn minh. Sau đó, cuộc cải cách bị ngừng lại một thời gian lâu.

Mặc dù bị đàn áp khốc liệt như vậy, nhưng đến năm 1993, nhiều nhà dân chủ nổi tiếng, như Từ Văn Lập, Tần Vĩnh Mẫn, Lý Hải, Lưu Niệm Xuân, Châu Quốc Cường... đã cùng nhau soạn thảo bản «Hiến chương Hòa Bình» vạch rõ hướng đi tới dân chủ hóa Trung Quốc theo con đường hòa bình. Giới cầm quyền lại đàn áp, bắt bớ, nhưng đến năm 1995, lại có trên 50 nhà trí thức gửi thư cho Quốc hội đòi tự do tư tưởng và đòi trả tự do cho tù nhân lương tâm và chính trị. Còn những người lãnh đạo công nhân đã đứng lên đòi quyền lập nghiệp đoàn tự do, ngoài vòng kiềm tỏa của đảng. Nghiệp đoàn độc lập đầu tiên do Hàn Ðông Phương lập ra (1989), sau đó bị đàn áp, họ Hàn bị bắt, thì đến năm 1994, nhà tranh đấu Châu Quốc Cường lại lập ra «Hiệp hội Bảo vệ Quyền lao động».

Nối nghiệp Ðặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân vẫn tiếp tục theo đường lối của họ Ðặng: cải cách kinh tế mà không chịu cải tổ hệ thống chính trị. Tuy vậy, trước áp lực của công luận thế giới, nhà cầm quyền Trung Quốc phải lần lượt trả tự do cho Ngụy Kính Sinh (1997), Vương Ðan (1998) và buộc họ phải sang Hoa Kỳ. Ðến tháng 6.1998, Ðảng dân chủ Trung Quốc (ÐDCTQ) ra công khai hoạt động tại Trung Quốc, họ Giang tuyên bố sẽ đập tan mọi âm mưu chống đối, và tháng 12.1998, các lãnh tụ ÐDCTQ là Từ Văn Lập, Vương Hữu Tài và Tần Vĩnh Mẫn đã bị kết án tù rất nặng.

Từ năm 1998, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu suy thoái, số tăng trưởng chỉ còn khoảng 6%, và theo dự đoán của Ngân hàng Thế giới thì sẽ còn giảm nữa. Nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọng, số người thất nghiệp có thể lên tới 30 triệu. Còn ở nông thôn có khoảng 30% lao động nông nghiệp không có việc thường xuyên - 300 triệu người đi lang thang kiếm việc làm. Nông dân ở nhiều địa phương bất bình vì thu nhập ngày càng giảm sút. Những cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân gần đây ngày một tăng lên, nhất là ở những vùng sâu trong nội địa và vùng Ðông Bắc. Tháng 1.1999, cuộc biểu tình của 3000 nông dân Hồ Nam bùng ra tại ngay thủ phủ Ninh Hà để chống cán bộ, đảng viên tham nhũng, giới cầm quyền đã phái công an cảnh sát thẳng tay đàn áp tàn bạo bằng lựu đạn cay, dùi cui. Phong trào đấu tranh của các dân tộc ở Tây Tạng, Tân Cương cũng ngày một quyết liệt.

Cuộc khủng hoảng niềm tin trong dân chúng đang trầm trọng thêm. Người dân muốn tìm đến một niềm tin khác trong các tôn giáo. Môn phái Pháp Luân Công của Lý Hồng Chỉ thu hút đến 60 triệu người trong và ngoài nước thuộc đủ các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, những người hưu trí. ÐCSTQ lo sợ đã bắt bớ, giam cầm rất nhiều người trong môn phái này, và ngày 25.4.1999, 10 ngàn môn đồ Pháp Luân Công đã tụ tập ở Trung Nam Hải, trước trụ sở của TƯ ÐCSTQ để phản đối những hành động đó của chính quyền. Hiện nay, chẳng những Pháp Luân Công, mà cả Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, v.v... cũng đang bị đàn áp dữ dội. Cũng chính vì chính sách cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị nên đã nảy sinh nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển tiếp tục. Mãi gần đây, ÐCSTQ mới cho áp dụng việc bầu cử ở các cấp cơ sở ở thôn quê và đô thị, nhưng điều đó không thể gọi là dân chủ hóa thật sự nên không giải quyết được mâu thuẫn chính trị và xã hội trong nước.

Do không vượt qua được những ràng buộc về ý thức hệ, nên khi có những bước cải tổ về kinh tế, tập đoàn thống trị vẫn cố bám giữ sở hữu nhà nước (xí nghiệp quốc doanh...) và e ngại sở hữu tư nhân. Ðiều đó đã làm cản trở đà phát triển kinh tế. Mãi đến gần đây, sau cái chết của Trần Vân (1995) và Ðặng Tiểu Bình (1997), ban lãnh đạo Trung Quốc mới bắt đầu có những bước cải tổ dè dặt, như cổ phần hóa các xí nghiệp quốc doanh, ghi nhận trong Hiến pháp về vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân, v.v...

Cũng nên nói thêm rằng hồi cuối thập niên 80, Gorbachev và ban lãnh đạo ÐCSLX đã tìm mọi cách hòa giải với Trung Quốc, tổng thống Liên Xô đã đến Trung Quốc chính vào lúc phong trào sinh viên đang sôi sục ở Bắc Kinh(1989), và hồi đó trong nội bộ ÐCSLX cũng đã có những tiếng nói đề nghị Liên Xô đi theo mô hình Trung Quốc, tức là cải tổ về kinh tế mà giữ nguyên trạng về chính trị. Nhưng điều đó không thể nào thực hiện ở Liên Xô được, vì phong trào dân chủ trong dân chúng đã mạnh, không cho ÐCSLX đi thụt lùi hoặc đứng yên về mặt chính trị.

Ở châu Á, Việt Nam đã «đổi mới» theo mô hình của Trung Quốc, còn Bắc Triều Tiên thì ÐCS cố bảo thủ đến cùng, không cải tổ gì về kinh tế, nên hậu quả vô cùng thê thảm, nạn đói khủng khiếp đã diễn ra và kéo dài trong nhiều năm qua, theo tin gần đây của các báo thì đã có 3,5 triệu người chết đói! Cuba cũng không chịu cải cách kinh tế, nên tình trạng kinh tế và đời sống của nhân dân cũng rất tồi tệ. Chỉ vài năm gầnđây mới bắtđầu có sửa đổi đôi chút.