Người Hmong tại Lào và khu Tam Giác Vàng
Nguyễn Văn Huy


Những cuộc đụng độ võ trang gần đây tại Lào, nhất là sự hiện diện quân sự của Việt Nam, gây nhiều xôn xao trong dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại. Giới truyền thông quốc tế nói người Hmong tại Lào được đồng hương tại hải ngoại giúp đỡ vũ khí lật đổ chính quyền, quân Pathet Lào chống không lại phải kêu cứu Việt Nam, v.v...

Trong thực tế, những loại tin vừa nói không phản ảnh đúng nguyên do thúc đẩy sự nổi dậy của người Hmong và sự hiện của bộ đội cộng sản Việt Nam trên đất Lào. Việt Nam ngày nay không còn khả năng thực hiện chính sách bá quyền khu vực như những năm trước. Hơn nữa, Lào và Việt Nam là hai quốc gia thành viên của ASEAN, mọi can thiệp vào nội tình một quốc gia thành viên khác trái với quy ước sinh hoạt của hội. Về phía người Hmong tại Lào, kể cả tại Việt Nam, từ sau 1954 cho tới nay chưa bao giờ nổi lên đòi độc lập hay quyền tự trị dù không ưa gì người Lào hay người Việt, họ chỉ muốn được sống yên ổn tại nơi sinh trú. Chính "ước muốn được sống yên ổn tại nơi sinh trú này mới là nguyên nhân của mọi biến động. Ðó là một trong những nơi cung cấp ma túy lớn nhất thế giới.

Nơi sinh trú của người Hmong, nằm trong khu Tam Giác Vàng, hiện nay là một trong những trung tâm sản xuất ma túy lớn nhất thế giới (hơn cả Trung Mỹ) đang bị tổ chức bài trừ ma túy và ngăn ngừa tội ác của Liên Hiệp Quốc (ODCCP-Office for Drug Control and Crime Prevention) chỉ tên điểm mặt. Tam Giác Vàng là nơi giáp ranh giữa ba nước Miến Ðiện-Thái Lan-Lào về phía Bắc và cũng là nơi sinh trú của những sắc dân chuyên sống bằng nghề trồng cây á phiện.

Người Hmong tại Lào

Người Hmong - còn gọi là Miêu, Miao hay Mèo - là một sắc tộc thiểu số sinh trú trên những độ cao từ 1.000 đến 1.400 mét, đông nhất tại Xieng Khoan (Trấn Ninh), kế là Hua Phan (Hổ Phàn), Boli Khamsay (Lạc Biên) và Kham Muon (Cam Muộn), sát với biên giới Việt Nam. Dân số trên 270.000 người (6% dân số toàn quốc) gồm người Hmong trắng (150.000), Hmong xanh dương (100.000) và Hmong sọc (20.000). Nghề sinh sống chính là trồng bắp, lúa rẫy, chăn nuôi, dệt và đan lát, nhưng nghề canh tác mang lại lợi tức cao là trồng cây á phiện.

Khí hậu và những vùng đất cao tại Bắc và Trung Lào rất thích hợp cho nghề trồng cây á phiện, năng suất vừa cao vừa có thể gặt hái quanh năm. Trung bình mỗi trái á phiện (pavot) tại đây cung cấp hơn 100 gram nhựa sống. Người Hmong biết trồng cây á phiện và sản xuất thuốc phiện từ lâu đời, lượng nha phiến sản xuất ra phần lớn dùng cho nhu cầu nội bộ (chữa bệnh và chống lạnh), số còn lại để đổi lấy gạo và muối.

Người Hmong xuất phát từ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc), tộc Mèo Dao (Miao Yao), ngữ hệ Tạng Miến (tibéto-birman). Giữa thế kỷ 13, khi quân Mông Cổ tấn công Tứ Xuyên và Ðại Lý (Quế Châu), những cư dân bản địa ngữ hệ Tạng Miến chạy xuống phía Nam tị nạn, một số đến thượng nguồn sông Irrawaddy (Miến Ðiện) lập nghiệp, hòa trộn với người bản địa để trở thành tộc Mang (birman) sau đó, một số khác chạy về Vân Nam và Quảng Tây sinh sống. Ðầu thế kỷ 15, một số dân cư Hmong tại Vân Nam, không chấp nhận chính sách dân công của nhà Minh (bắt dân xây dựng vạn lý tường thành ngăn chặn người Mông Cổ ở phía Bắc), đi lần phía Nam lánh nạn trên những vùng rừng núi hiểm trở tại Bắc Lào.

Giữa thế kỷ 17, nhà Thanh đánh bại nhà Minh và làm chủ toàn bộ Trung Nguyên, một số quân Minh chạy xuống các vùng rừng núi phía Nam tỉnh Vân Nam lập căn cứ và vận động các sắc địa phương tham gia phong trào phản Thanh phục Minhê. Với thời gian tinh thần phản Thanh giảm dần và ý chí phục Minh biến mất, nhóm tàn quân này trở thành quân cướp làm chủ trên một vùng đất rộng lớn từ Bắc Miến Ðiện đến miền thượng du Bắc Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19. Nghề sinh sống chính là phân phối thuốc phiện do các sắc dân miền núi sản xuất xuống đồng bằng đổi lấy gạo, muối và vũ khí.

Năm 1849, Hồng Tú Toàn, một lãnh chúa tại Vân Nam thành lập Thái Bình Thiên Quốc, chống lại nhà Thanh lúc đó đang suy yếu. Thế lực của nhóm này rất mạnh, những nhóm tàn quân nhà Minh cũ và các sắc dân trong vùng đi theo rất đông. Quân Thái Bình Thiên Quốc cướp bóc tài sản những người giàu có trong vùng và bán nha phiến cho người Anh, lúc đó đã mở được một con đường vào Trung Quốc dọc theo sông Irrawaddy (Miến Ðiện) từ 1830, để tự tài trợ. Số lượng thuốc phiện do người Anh xuất khẩu vào Trung Quốc tăng nhanh làm nhiều người bị nghiện khiến Bắc Kinh phẫn nộ. Sau hai cuộc chiến tranh nha phiến năm 1842 và 1856, nhà Thanh bị các đế quốc phương Tây đánh bại, phải nhượng thêm nhiều vùng đất mới và mở cửa buôn bán với phương Tây. Trước thế lực ngày càng lớn của Thái Bình Thiên Quốc, các đế quốc phương Tây đã giúp nhà Thanh tiêu diệt phong trào năm 1864. Những người sống sót, do Ngô Côn dẫn đầu, phân tán thành từng nhóm nhỏ chạy lên các vùng núi non hiểm trở Bắc Là và Bắc Việt Nam và Lào lập căn cứ, bị gọi chung là giặc Hồê, gồm các nhóm Cờ Vàng do Hoàng Sùng Anh lãnh đạo, Cờ Ðen do Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu và Cờ trắng do Bàn Văn Nhị và Lương Văn Lợi chỉ huy. Năm 1884, khi Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, chính nhóm Cờ Ðen đã giúp nhà Nguyễn đánh lại quân Pháp. Các nhóm này làm chủ vùng biên giới giữa Trung Hoa, Việt Nam và Lào trong hơn 30 năm, từ 1868 đến 1897.

Trước sự suy yếu của nhà Thanh, năm 1855 người Hmong tại Quế Châu cũng nổi lên đòi tự trị nhưng sau vài năm cầm cự, tất cả đều bị nhà Thanh đánh dẹp. Năm 1860, một số gia đình Hmong chia thành hai nhóm chạy xuống phía Nam lánh nạn: một nhóm lên vùng núi non miền Bắc Lào lánh nạn và hòa trộn với các nhóm đồng tộc có mặt từ trước khai thác các vùng đất mới; nhóm kia lên miền thượng du Bắc Việt ẩn náu (Hà Giang và Lào Cai) và sau đó tỏa rộng sang 7 tỉnh khác năm 1873 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh). Các nhóm Hmong này tiếp tục canh tác và sản xuất thuốc phiện đổi lấy gạo và muối với các nhóm quân Hồ cho tới khi Pháp làm chủ hoàn toàn miền Bắc Ðông Dương năm 1897.

Sau khi ký hiệp ước bảo hộ miền Bắc và miền Trung năm 1884, Pháp tiến vào các vùng rừng núi phía Tây Bắc Việt Nam thám hiểm và mở rộng lãnh thổ. Năm 1893 vương quốc Lào được Pháp khai sinh, quân Hồ và quân Xiêm bị đánh đuổi ra khỏi vùng đất bảo hộ. Ðể giản dị hóa việc bảo hộ, Pháp giao cho người Lào cai trị tất cả các sắc tộc miền núi, điều này không làm người Hmong vừa lòng vì từ trước đến đến nay quen sống độc lập và chỉ hợp tác với các nhóm người Hoa. Năm 1918, Pachai Vu, một thủ lãnh Hmong trắng tại Bắc Lào nổi lên chống lại người Lào và bị dập tắt trong máu lửa. Lo ngại vương quốc Lào bị tan vỡ, năm 1920 Pháp giao cho Lo Bliayao quyền cai quản huyện Nong Het, tỉnh Xieng Khoan, nơi người Hmong trắng tập trung đông nhất. Nong Het, nằm trên cánh đồng Chum, có một vị thế chiến lược quan trọng tại Bắc Ðông Dương, nối liền Vinh và Luang Prabang bởi quốc lộ 7.

Nong Het quá lớn và quá đông dân, Lo Bliayao không đảm nhiệm nổi đã mời Tougeu Lyfung, một lãnh tụ Hmong khác, cộng tác. Lo Bliayao cai quản hạt Kengkhoai và Tougeu Lyfung hạt Phac Boun. Năm 1935 Lo Bliayao qua đời, Tougeu Lyfung trở thành người có quyền lực nhất tại Xieng Khoan. Tháng 9-1939, đến lượt Lyfung qua đời, con của ông là Touby Lyfung và con của Lo Bliayao là Faydang tranh quyền lãnh đạo Nong Het. Cuối cùng Touby Lyfung được Pháp nhìn nhận là người lãnh đạo chính thức cộng đồng người Hmong tại Xieng Khoan; Faydang rút vào bóng tối hợp tác với hoàng gia Lào và các phe chống đối khác.

Touby Lyfung đã tỏ ra trung thành với Pháp với hy vọng được cho hưởng quy chế tự trị, ông đã toại nguyện. Ðể có tiền mở trường học, xây bệnh xá và đào tạo cán sự hành chánh nhằm nâng cao dân trí và mức sống người Hmong, Touby Lyfung tăng thuế và cho dân trả bằng thuốc phiện. Biện pháp này làm mức sản xuất thuốc phiện tại Xieng Khoan tăng cao, Touby Lyfung là người Hmong duy nhất được kết nạp làm hội viên danh dự ủy Ban Mua Thuốc Phiện của Pháp. Trong cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất (1945-1954), người Hmong dưới sự lãnh đạo của ông theo Pháp đánh quân Việt Minh trên khắp các chiến trường tại Lào. Ðể tạ ơn, năm 1947 Touby Lyfung được vua Sisavangvong phong tước Phagna, một tước danh dự dành riêng cho những người không thuộc hoàng gia Lào (trong lịch sử của người Hmong tại Lào, chỉ có ba người được phong tước Phagna là Tougeu Lyfung, Touby Lyfung và Vang Pao) và cộng đồng người Hmong được nhìn nhận là thần dân của vương quốc Lào (điều 4, hiến pháp 14-9-1949).

Sau hiệp định Genève 1954, người Hmong tại Lào bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp ý thức hệ quốc gia và cộng sản. Faydang theo hoàng thân Souphanouvong và Pathet Lào, được Việt Minh yểm trợ. Touby Lyfung theo vua Sisavangvong, được Hoa Kỳ đỡ đầu. Năm 1960, Touby Lyfung giữ chức bộ trưởng bộ tư pháp, những người Hmong theo ông giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền và quân đội Lào.

Nhưng những biến động chính trị và quân sự sau đó làm suy yếu chính quyền trung ương Lào (chính phủ trung lập bị giải tán tháng 7-1958; phe Pathet Lào rút về vùng Ðông Bắc tháng 7-1959; đại úy Khong Le đảo chánh ngày 9-8-1960; chính phủ trung lập gồm ba thành phần thành lập ngày 23-7-1962 bị tan vỡ ngày 19-4-1964...), Hoa Kỳ cần một loại người khác đủ khả năng chống lại sự xâm nhập người và vũ khí của phe cộng sản từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam trên đất Lào. Người Hmong trắng, một sắc dân thiện chiến trên vùng rừng núi, được Hoa Kỳ chú ý. Năm 1959, một sĩ quan nhảy dù do Pháp đào tạo, Vang Pao (sinh năm 1930), làm chỉ huy trưởng tiểu đoàn 10 bộ binh trên Cánh Ðồng Chum. Trong chức vụ này, Vang Pao đã tỏ ra có khả năng và trở thành một lãnh tụ chống cộng được cơ quan tình báo CIA Mỹ nhiệt tình nâng đỡ. Từ 1961 trở đi, các phái đoàn quân sự và nhân viên tình báo CIA thành lập nhiều đội dân phòng Hmong (HADC-Hmong Auto Defense d'Choc) và đơn vị du kích (HSGU-Hmong Special Guerilla Unit) giúp Hoa Kỳ truy tìm và phá hủy các căn cứ của quân cộng sản. Cho đến 1975, có hơn 30.000 tay súng Hmong đứng dưới cờ hoàng gia Lào (và Mỹ) đánh lại quân cộng sản. Những cuộc giao tranh trên bộ tại Lào phần lớn chỉ xảy ra giữa người Hmong và quân cộng sản miền Bắc Việt Nam; quân đội hoàng gia và Pathet Lào chỉ làm nhiệm vụ canh gác.

Trong cuộc chiến tại Lào (1960-1975), Thái Lan cũng có một vai trò tích cực. Cảnh sát biên phòng Thái và các toán biệt kích Mỹ đào tạo dân làng Hmong cách sử dụng mìn bẩy và võ khí tự động. Thanh niên Hmong được đưa sang Thái Lan huấn luyện quân sự tại Phitsanulok và Nam Pung Dam. Chỉ về sau, khi cuộc chiến leo thang, người Hmong mới được huấn luyện trực tiếp tại hai căn cứ Sam Thong và Long Tieng trên Cánh Ðồng Chum. Các lực lượng Hmong được đưa về bảo vệ đế đô Luang Prabang và các thôn làng dọc vùng biên giới giáp ranh với Việt Nam tại Xieng Khoan, Hua Phan, Sam Nua và Kham Muon. Vào lúc cao điểm nhất của cuộc chiến (năm 1971), Hoa Kỳ phải tuyển mộ thêm người Hmong tại Thái Lan để bổ sung quân số. Người Nùng tại miền Nam Việt Nam cũng được tuyển sang cao nguyên Boloven chiến đấu. Những binh sĩ sắc tộc này gây nhiều thiệt hại cho quân đội miền Bắc trên các đường mòn Hồ Chí Minh và Sihanouk.

Cuộc chiến tại Lào tuy ít được dư luận quốc tế biết đến nhưng cường độ không thua gì tại Việt Nam. Cánh đồng Chum, đường số 7 và 9 nối liền Luang Prabang với Vinh và Tchépone với Khe Sanh là những chiến trường đẫm máu, số bộ đội Bắc Việt chết vì bom đạn tại đây cũng nhiều bằng ở miền Nam Việt Nam. Tổng kết cuộc chiến tại Lào tháng 12-1975, hơn 200.000 phi vụ dội trên 2 triệu tấn bom xuống các vùng rừng núi làm 700.000 người sắc tộc (2/3 dân số) phải rời nơi cư trú về miền xuôi lánh nạn. Người Hmong có lẽ là cộng đồng chịu nhiều thiệt hại hơn hết: trên 35.000 người Hmong (trên tổng số 400.000) đã bị thiệt mạng, hơn phân nửa là binh lính; 250.000 người phải rời nơi cư trú trên miền núi về đồng bằng năm 1965 để không quân Hoa Kỳ tự do oanh tạc; canh tác nông nghiệp và nghề trồng cây á phiện bị đình trệ. Ðầu năm 1976, khoảng 400.000 người Lào đã vượt sông Mékong sang Thái Lan tị nạn, trong đó có hơn 200.000 người Hmong và 30.000 người Kha (người Thượng hay Lao Theung theo tiếng Lào). Năm 1985, gần 325.000 người Lào đã được Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây khác nhận vào định cư, trong đó có khoảng 180.000 người Hmong (160.000 tại Hoa Kỳ, 10.700 tại Pháp và 1.300 tại Guyane thuộc Pháp, số còn lại tại úc, New Zealand và Canada).

Sau 1975, CIA vẫn tiếp tục yểm trợ người Hmong chống lại quân Pathet Lào và bộ đội Việt Nam cho tới cuối thập niên 1980. Một vài binh sĩ Hoa Kỳ đào ngũ (bị coi là mất tích-MIA) đã ở lại miền Bắc Lào tham gia phong trào buôn ma túy. Trong các trại tị nạn, những binh sĩ Hmong rã ngũ được Khun Sa, trùm buôn lậu thuốc phiện trên khu Tam Giác Vàng, tuyển dụng. Năm 1981 hơn 24.000 người Hmong đã rời Thái Lan về lại quê cũ sinh sống. Hiện nay không còn người Hmong nào trong các trại tị nạn, tất cả đều về lại quê cũ, tình nguyện hay cưỡng bách.

Người Hmong về lại Lào bị chỉ định cư trú tại tỉnh Kham Muon để dễ kiểm soát. Tuy vậy cũng có một số người về lại Xieng Khoan và Hua Phan sinh sống. Ðời sống quá nghèo khổ buộc người Hmong canh tác cây á phiện cung cấp cho các tổ chức buôn lậu dọc các vùng biên giới. Thuốc phiện do người Hmong sản xuất tại Lào rất được giới buôn bán và tiêu thụ ưa chuộng vì có chất lượng tốt. Một cơ hội lớn đối với người Hmong là các trung tâm sản xuất ma túy lớn như tại Trung Mỹ, Trung Ðông, Afghanistan, Thái Lan và Miến Ðiện bị cơ quan bài trừ ma túy và ngăn người tội ác (ODCCP) của Liên Hiệp Quốc kiểm soát gắt gao trong khi nhu cầu tiêu thụ ma túy không suy giảm, địa bàn sản xuất thuộc phiện của người Hmong tại Bắc Lào càng được các tổ chức buôn lậu chiếu cố vì chưa bị kiểm soát. Khu Tam Giác Vàng cho tới nay vẫn còn là một vùng đầy bí hiểm.

Nhưng làm sao chuyển lượng thuốc phiện sản xuất từ khu Tam Giác Vàng xuống đồng bằng và xuất khẩu sang các quốc gia tiêu thụ khác? Ðó là bài toán mà các tổ chức buôn lậu thuốc phiện đang tìm giải pháp và cũng là vấn đề mà cơ quan bài trừ ma túy quốc tế đang tìm cách phá vỡ. Những biến động gần đây tại Lào giải thích phần nào những cố gắng đó.

Khu Tam Giác Vàng

Từ sau 1945, chiến cuộc tại Lào và miền Bắc Việt Nam leo thang, người Hmong bị lôi kéo vào cuộc chiến và địa bàn sinh sống của họ trở nên bất an. Một biến cố lớn làm bùng lên phong trào buôn bán thuốc phiện là sự xuất diện của tàn quân Quốc Dân Ðảng Trung Hoa năm 1950, nghề canh tác cây á phiện chuyển qua Thái Lan và Miến Ðiện.

Tháng 10-1949, Quốc Dân Ðảng Trung Hoa bị phe cộng sản đánh bật ra khỏi lãnh thổ. Thành phần chủ lực theo Tưởng Giới Thạch ra đảo Ðài Loan lập căn cứ, số còn lại chạy về phía Nam trốn trong những vùng rừng núi giáp ranh với Miến Ðiện, Thái Lan và Lào dựng lập chiến khu. Ðược CIA yểm trợ, tàn quân Quốc Dân Ðảng tuyển mộ và huấn luyện các sắc dân thiểu số chống lại quân cộng sản tại Hoa Lục. Năm 1951, Quốc Dân Ðảng tại đây có hơn 4.000 tay súng, năm 1952 tăng lên 30.000. Nhưng, vì được tuyển mộ một cách gấp rút và thiếu kinh nghiệm chiến đấu, những tân binh này không chống cự lại bộ đội cộng sản Trung Quốc, có lý tưởng và có kỷ luật chiến đấu hơn. Kết quả: hơn 16.000 người bị giết, số còn lại phân rã thành nhiều nhóm nhỏ ẩn náu trong dân. Với thời gian, ý chí khôi phục lục địa phai dần, các đám tàn Quốc Dân Ðảng trở thành những băng đảng sinh sống bằng nghề buôn bán thuốc phiện.

Sự hiện diện của tàn quân Quốc Dân Ðảng làm thay đổi toàn bộ sinh hoạt của các sắc dân trong vùng và biến nơi đây thành một trong những trung tâm sản xuất thuốc phiện lớn nhất và khó bài trừ nhất thế giới. Thuốc phiện thành một nguồn lợi lớn, giá đắt như vàng nên từ thập niên 1950 khu vực biên giới phía Bắc ba nước Lào, Thái Lan và Miến Ðiện có biệt danh là khu Tam Giác Vàng. Mỗi năm khu này cung cấp trên 4.000 tấn thuốc phiện hay 335 tấn heroin tinh chế. Theo số liệu do tổ chức bài trừ ma túy Hoa Kỳ, trong năm 1990 chỉ riêng một mình Miến Ðiện đã sản xuất gần phân nửa số thuốc phiện tiêu thụ trên toàn thế giới: 2.365 tấn hay 197 tấn heroin, sản lượng thuốc phiện hiện càng tăng lên gấp nhiều lần.

Miến Ðiện hay Myanmar (48,1 triệu dân) là một liên bang gồm 7 tiểu bang người Miến (Mang hay Birman) và 7 tiểu quốc sắc tộc: Kachin (một triệu), Shan (2,5 triệu), Kayah (1,2 triệu), Karen (3 triệu), Môn (một triệu), Arakan (1,3 triệu) và Chin (800.000). Những sắc tộc này, trừ người Arakan (gốc ‰nên Ðộ) sinh sống dọc bờ biển, đều có liên quan không nhiều thì ít đến sản xuất hay áp tải thuốc phiện. Người Karen và Môn tuy không sản xuất thuốc phiện nhưng là những nhóm áp tải và vận chuyển thuốc phiện có thế lực nhất xuống vùng biển để sau đó xuất khẩu sang các quốc gia khác. Người Shan gần như nắm độc quyền về nghề sản xuất thuốc phiện vì nơi sinh trú, ở cao độ từ 500 đến 1.500 mét, rất thuận lợi cho nghề trồng cây áp phiện. Nhưng quan trọng nhất là các nhóm người Hoa tại Kokang, tuy chỉ có một dân số trên dưới một triệu người nhưng từ khi liên kết với lực lượng Quốc Dân Ðảng trở thành nhóm chủ chốt trong việc phân phối thuốc phiện từ miền núi xuống đồng bằng.

Trước nguồn lợi quá lớn do thuộc phiện mang lại, chính phủ quân sự gồm toàn người Mang tại Rangoon cũng không bỏ lỡ cơ hội. Từ sau 1950, quân đội Miến đã nhiều lần tiến vào khu Tam Giác Vàng đánh quân Quốc Dân Ðảng nhưng đều thảm bại. Năm 1954, Rangoon yêu cầu Liên Hiệp Quốc buộc Ðài Loan rút quân về nước, không thành công; năm 1960 hợp tác với Trung Quốc đánh đuổi các lực lượng Quốc Dân Ðảng ẩn náu dọc biên giới, không kết quả. Năm 1965, Rangoon thay đổi chiến lược bằng các thành lập những đội dân phòng người sắc tộc (Kha Kwe Yei) để cạnh tranh với những đội áp tải do Quốc Dân Ðảng đỡ đầu. Biện pháp mới này không ngờ mang lại hiệu quả, các đội dân phòng được quân đội bảo vệ áp tải thuốc phiện từ cao nguyên xuống đồng bằng một cách an toàn. Năm 1973, các đội dân phòng được trang bị như quân đội chính quy trở thành các đội dân quân du kích (Pyi Thu Sit) để tránh tai tiếng cho quân đội.

Cùng với chiến dịch loại trừ tàn quân Quốc Dân Ðảng năm 1950, Rangoon muốn chiếm luôn địa bàn sản xuất thuốc phiện bằng cách hạn chế thế lực của các lãnh chúa (sahopa) người Shan, đồng minh của Quốc Dân Ðảng. Shan là một sắc tộc lớn gốc Thái, sinh sống trong thung lũng sông Salween giữa tỉnh Vân Nam và Thái Lan. Trước biện pháp mới này, người Shan đe dọa tách khỏi liên bang, Rangoon phải nhượng bộ năm 1958 nhưng đồng thuận quốc gia đã mất. Một tướng người Shan, Sao Gnar Kham, thành lập quân đội riêng năm 1956, cùng những lãnh chúa Shan khác tiếp tục quản trị vùng đất rộng lớn miền Ðông Bắc và liên kết với các lực lượng Quốc Dân Ðảng, được Bangkok đỡ đầu, chống lại Rangoon. Làng Ban Hin Taek, tỉnh Chieng Rai (Thái Lan) trở thành đại bản doanh của quân đội Shan. Năm 1962, các nhóm võ trang Quốc Dân Ðảng và Shan tôn Moh Heng, một người Hoa tại Kokang, lãnh đạo cuộc kháng chiến. Thay vì chống lại Rangoon, năm 1964 những nhóm này kết hợp lại thành hai đạo quân lớn tại tỉnh Chieng Mai (Thái Lan) để bảo vệ các vùng canh tác và áp tải thuốc phiện xuống đồng bằng: Ðạo quân thứ 3 do tướng Li Wen Huan chỉ huy, bộ tham mưu đặt tại làng Feng và Ðạo quân thứ 5 do tướng Duan Shi Wen lãnh đạo, bộ chỉ huy đóng tại làng Mae Salong.

Lợi tức do buôn bán thuốc phiện quá hấp dẫn, những nhóm sắc tộc nhỏ hơn cũng tham gia phong trào buôn lậu. Năm 1950, Trung Quốc giúp người Kachin thành lập Mặt Trận Nhân Dân, trang bị hơn 6.000 tay súng chống lại tàn quân Quốc Dân Ðảng. Bắc Kinh bị hố to, với số lượng vũ khí có được, các nhóm võ trang Kachin hợp tác với Quốc Dân Ðảng sản xuất và áp tải thuốc phiện. Những nhóm nhỏ hơn như người Pao (200.000 dân), người Wa (500.000 dân), người Paluang (200.000 dân), người Lahu (100.000 dân) cũng thành lập những lực lượng võ trang riêng để được Quốc dân Ðảng và người Shan chia phần.

Miền Ðông Bắc Miến Ðiện trở thành vùng đất vô chính phủ, mỗi sắc tộc, mỗi làng đều có một lực lượng võ trang riêng. Ai cũng muốn chiếm phần lợi về phía mình, những nhóm nhỏ kết hợp với những nhóm lớn để trở thành những liên minh lớn hơn, qua đó được chia phần nhiều hơn. Nhóm nào chịu đặt dưới sự chỉ đạo của Quốc Dân Ðảng thì trở nên mạnh nhất. Trong thấp niên 1960 có bốn nhóm được coi là mạnh lớn nhất , đó là lực lượng võ trang Shanê, những chiến sĩ trẻ can trường , đạo quân thứ 3ê và đạo quân thứ 5ê của Quốc Dân Ðảng. Tranh chấp võ trang và thanh toán nội bộ giữa các nhóm và lãnh tụ sắc tộc cũng xảy ra thường xuyên. Thủ lãnh Sao Gnar Kham bị Quốc Dân Ðảng ám sát tại Thái Lan năm 1964 sau một vụ chia chác không đồng đều. Năm 1966, Moh Heng rời lực lượng võ trang Shan để thành lập lực lượng cách mạng thống nhất dưới quyền điều động của Ðạo quân thứ 3 của tướng Li Wen Huan; Lo Hsing Han dẫn lực lượng Kokang theo Ðạo quân thứ 5 phò tướng Duan Shi Wen (Lo Hsing Han sản xuất heroin 999 tinh chất nhất Ðông Nam á); những chiến sĩ trẻ can đảm rủ người Lahu phục vụ tướng Naw Seng vùng Ðông Bắc, v.v...

Sự phân công trên khu Tam Giác Vàng cũng khá rõ ràng: các nhóm sắc tộc lớn nhỏ sản xuất thuốc phiện nguyên chất bán lại cho những nhóm lớn chế biến lại thành heroin rồi giao cho các đội võ trang thuộc các sắc tộc khác áp tải thuốc phiện về đồng bằng bán lại cho các đường dây buôn lậu để tiêu thụ tại chỗ hay xuất khẩu. Việc phân phối thuốc phiện và heroin tại đồng bằng hay trong các thành phố lớn đều do các băng đảng xã hội đen được Quốc Dân Ðảng hải ngoại đỡ đầu nắm giữ. Trái với lầm tưởng của nhiều người, những băng đảng xã hội đen của tại Hồng Kông và Mã Cao không là gì so với những tổ chức mafia của Quốc Dân Ðản, họ có lý tưởng hơn nhưng cũng tàn bạo hơn. Giá cả, thị trường và dịch vụ phân phối thuốc phiện tại Ðông Nam á, kể cả tại Trung Quốc, cũng do những tổ chức xã hội đen này định đoạt.

Nguồn thuốc phiện trong khu Tam Giác Vàng phân phối ở đâu? Ðó là câu hỏi mà các tổ chức bài trừ ma túy và ngăn ngừa tội ác quốc tế đang tìm ra manh mối. Trong thực tế, lượng thuốc phiện và heroin do các nhóm võ trang mang về đồng bằng giao cho các băng đảng xã hội đen được phân tán qua hàng ngàn công ty buôn sỉ và bán lẻ lớn nhỏ của người Hoa khắp vùng Ðông Nam á, dưới đủ mọi hình thức, để tiêu thụ tại chỗ hay xuất khẩu sang Châu êu và Hoa Kỳ, qua trung gian những hãng tàu đi biển và công ty xuất nhập khẩu hàng hóa vô thưởng vô phạt tại những quốc gia không dính líu gì đến thuốc phiện. Số tiền thu được, sau khi trừ mọi phí tổn, được hợp thức hóa trong một hệ thống chằng chịt những ngân hàng do người Ðài Loan và người Hoa tại Ðông Nam á làm chủ, sau đó chuyển vào quỹ của Quốc Dân Ðảng một cách an toàn, rất khó tìm ra đầu mối.

Hệ thống ngân hàng OCBC (Overseas Chinese Banking Corporation) của Ðài Loan và Liên Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ phụ trách trục Philippines-Ðài Loan và Singapore-Malaysia-Indonesia thống lãnh các nguồn tài chánh tại Ðông Nam á. Ðó là chưa kể nhiều ngân hàng khác, dưới quyền điều khiển của Ðài Loan, như Overseas Union Bank, Bangkok Bank, v.v... tham gia chia chác thị trường. Cũng nên biết người Hoa nắm trong tay 90% kinh tế Thái Lan, 80% kinh tế Indonesia, 60% kinh tế Mã Lai, 40% kinh tế Philippines và làm chủ 12 trên tổng số 26 ngân hàng của nước này.

Sau chiến tranh Việt Nam, các nhóm buôn lậu thuốc phiện trong khu Tam Giác Vàng mất độc quyền sản xuất và áp tải thuốc phiện về tay Khun Sa, một ngôi sao mới xuất hiện trên vòm trời Tam Giác Vàng. Tuy vậy các băng đảng xã hội đen do Quốc Dân Ðảng đỡ đầu vẫn độc quyền phân phối thuốc phiện đi khắp thế giới, Khun Sa cũng chỉ là người sản xuất cung cấp mà thôi.

Khun Sa, trùm buôn lậu

Trước sự chia rẽ và tranh chấp lẫn nhau giữa các nhóm buôn bán thuốc phiện, năm 1965 Khun Sa kết hợp những nhóm võ trang nhỏ lại một khối lớn hơn chống lại Quốc Dân Ðảng trong khu Tam Giác Vàng.

Khun Sa tên thật là Lo Chang, là một người Shan gốc Hoa tại Kokang (tên Miến là Kwan Kywa, tên Hoa là Ki Yan), sinh năm 1932 tại làng Loi Maw, huyện Mong Yai, Miến Ðiện. Ðể tạo cho mình một huyền thoại riêng, năm 1950 Lo Chang tự xưng là Chang Chi Fu khi gia nhập vào lực lượng Quốc Dân Ðảng địa phương thuộc đạo quân thứ 3 do tướng Li Wen Huan chỉ huy. Năm 1958, Chang Chi Fu rời Quốc Dân Ðảng để gia nhập lực lượng võ trang thống nhất chống chủ nghĩa xã hội của người Shan, một tổ chức du kích địa phương nhỏ, rồi từ đó vận động người Haw (người Hoa theo đạo Hồi tại Vân Nam di cư vào miền Bắc Miến Ðiện và Thái Lan từ 1949 đến 1952, khoảng 50.000 người) và binh sĩ Hmong tại Lào thành lập một lực lượng buôn thuốc phiện riêng do ông lãnh đạo. Thế lực của Lo Chang ngày càng lớn mạnh và áp đảo các tổ chức do Quốc Dân Ðảng đỡ đầu và chiếm lĩnh toàn bộ thị trường buôn bán thuốc phiện vùng Bắc Thái Lan và Lào. Trước thế lực mới đang lên này, lực lượng võ trang Shan bực mình trước sự chèn ép của Quốc Dân Ðảng gia nhập tổ chức của Chang Chi Fu .

Năm 1969, trên đường áp tải thuốc phiện, Chang Chi Fu bị cảnh sát Miến Ðiện bắt. Ðệ tử của ông bắt cóc hai bác sĩ Liên Xô làm việc tại miền Bắc Miến Ðiện để chuộc Chang Chi Fu. Ra khỏi tù năm 1973, Chang Chi Fu tự xưng là Khun Sa (Khun là một tước vị quí tộc nhỏ của người Thái, Sa là ông Trùm; người Shan gọi ông là Sao Mong Khawn, người Miến là Khun Yo) và đặt tên tổ chức mới của ông thành lực lượng thống nhất Shanê (SUA-Shan's Unify Army) cho có vẽ dân tộc. Tổ chức mới này không ngừng lớn mạnh, các lực lượng võ trang người Lahu, Wa và Pao, kể cả đảng cộng sản Miến Ðiện, đều xin gia nhập để được bảo vệ khi bị phe Quốc Dân Ðảng tấn công trên đường áp tải.

Thế lực của Khun Sa lên tột đỉnh khi tuyển mộ được những biệt kích Hmong từ Lào sang Thái Lan tị nạn năm 1976. Từ đó Khun Sa trở thành nhân vật mạnh nhất và là người được kính nể nhất trong giới buôn bán thuốc phiện tại Tam Giác Vàng. Cơ quan CIA còn giúp lực lượng Khun Sa tổ chức những cuộc đột kích vào đất Lào tìm kiếm người Mỹ mất tích và móc nối với những người Hmong khác. Quân đội của các chính quyền Rangoon và Bangkok chỉ bao vây hoặc canh chừng từ phía xa các căn cứ địa của Khun Sa trên Tam Giác Vàng chứ không dám đến gần.

Với lực lượng mới này, năm 1977 Khun Sa đánh chiếm đại bản doanh của người Hoa tại Kokang, đạo quân thứ 5ê do Duan Shi Wen chỉ huy tại Mae Hongson và của lực lượng chiến sĩ trẻ can trường tại Ban Hin Tek trên đất Thái Lan. Các đạo quân thứ 3 và thứ 5 cùng những tổ chức vệ tinh bị mất phần lớn địa bàn sản xuất thuốc phiện chạy xuống miền Tây Nam Thái Lan kết hợp với tướng To Lao chỉ huy trưởng sư đoàn 93 Quốc Dân Ðảng, bản doanh đặt tại Kanchanaburi từ 1957 trên lãnh thổ người Môn, gần đèo Ba Chùa (Tam Tự ải). Sư đoàn 93 sinh sống bằng nghề buôn lậu và áp tải thuốc phiện, đá quí và gỗ rừng từ Miến Ðiện qua Thái Lan, bán lại cho các công ty người Hoa. Năm 1980 quân đội Miến đẩy lùi sư đoàn 93 về biên giới Thái Lan, To Lao kết hợp người Môn thành lập quốc gia Môn tự trị trên đất Thái, thủ đô đặt tại Prachuab Kiridan, để độc quyền chuyến thuốc phiện ra biển Aman và vịnh Thái Lan.

Nhờ số tiền khổng lồ thu được do buôn bán thuốc phiện, Khun Sa mua chuộc gần hết chính giới và quân đội Thái Lan và Miến Ðiện để được dễ dàng trên đường áp tải hàng xuống đồng bằng. Cũng nhờ số tiền đó, lực lượng võ trang của Khun Sa được trang bị những loại vũ khí tối tân nhất (máy bay trực thăng, hệ thống radar, truyền tin, phòng không, chống chiến xa và các phòng y tế dã chiến) mua lại từ các kho vũ khí của Thái Lan và Ðài Loan, vũ khí cá nhân mua trực tiếp từ Trung Quốc do các tổ chức buôn lậu khác cung cấp. Tổng số binh sĩ dưới trướng Khan Sa có trên 30.000 người, đó là chưa kể gần một triệu người gồm đủ mọi sắc tộc đđượcợc ông cche chởvà nuôi dưỡng.

Vấn đề của Khun Sa là làm sao tiêu thụ số lượng thuốc phiện (nha phiến và heroin) khổng lồ do hơn 20 nhà máy chế biển sản xuất ra. Cơ hội đã đến khi người Karen và Môn xung đột với nhau năm 1983 buộc quân đội Thái Lan và Miến Ðiện ra tay can thiệp, con đường áp tải thuốc phiện ra biển bị bỏ trống. Các nhóm võ trang Karen tấn công các đoàn áp tải thuốc phiện của người Môn từ Miến Ðiện qua Thái Lan cho Quốc Dân Ðảng tại đèo Ba Chùa (Tam Tự Ðèo) trên bán đảo Mã Lai. Người Karen tố cáo người Môn không trả tiền mãi lộ xứng đáng và không biết ơn họ đã bảo vệ chống lại quân Miến Ðiện khi bị tấn công hồi đầu thập niên 1980. Khun Sa cùng với các lực lượng võ trang người Shan, người Haw và người Wa kết hợp với các sắc tộc nhỏ hơn như người Pao, người Kayan và Kerenni, mở một con đường khác từ Tam Giác Vàng xuống vịnh Thái Lan và biển Aman, hai bên bán đảo Mã Lai. Ðảng cộng sản Miến Ðiện (mất nguồn tài trợ của Trung Quốc) cũng nhân cơ hội mở một con đường khác từ Mae Hongson xuống đồng bằng buôn lậu thuốc phiện và mua hàng hóa điện tử bán cho Trung Quốc.

Trước sự lộng hành này, chính quyền Rangoon đưa ba sư đoàn bộ binh nhẹ (sư đoàn 88 tại Kentung, sư đoàn 77 tại Mong Hsu và sư đoàn 99 tại Lasho) lên cao nguyên Shan ngăn chặn đường dây buôn lậu của Khun Sa nhưng tất cả đều bị mua chuộc để bất động, nguồn thuốc phiện vẫn được sản xuất bình thường và đưa xuống đồng bằng một cách đều đặn. Năm 1982, Bangkok dẫn đại quân tấn công bản doanh của Khun Sa tại Ban Hin Taek, tỉnh Cheng Rai. Quân Khun Sa chống trả không lại, rút qua biên giới Miến Ðiện. Tại đây Khun Sa, một mặt, kết hợp với lực lượng võ trang Kachin và đảng cộng sản Miến (cả hai lực lượng này cung cấp 70% lượng thuốc phiện tại Miến) phòng thủ lãnh địa mới và, mặt khác, mở một rộng địa bàn sản xuất tại Lào do người Hmong phụ trách. Năm 1984, tất cả các tổ chức lớn nhỏ liên quan đến việc buôn bán hay áp tải thuốc phiện trong khu Tam Giác Vàng đều đặt dưới quyền của ông. Ðể thách thức dư luận quốc tế, Khun Sa mời phóng viên các đài truyền hình lớn quốc tế vào bản doanh của ông làm phóng sự.

Hoa Kỳ và Việt Nam nhập cuộc

Thế lực ngày càng lớn của Khun Sa khiến chính phủ Hoa Kỳ lo ngại. Sau khi kềm chế những trung tâm sản xuất cocaine lớn tại Trung Mỹ (Nicaragua, Venezuela, Bolivie và Colombie) cuối thập niên 1980, số lượng ma túy đưa lén vào Hoa Kỳ vẫn không thuyên giảm. Nguồn bạch phiến (heroin) từ khu Tam Giác Vàng do các tổ chức buôn lậu đưa vào Hoa Kỳ và Châu Âu tiếp tục tràn ngập các thị trường tiêu thụ bù đắp lượng ma túy từ Trung Mỹ bị chặn đứng. Ðây là một vấn nạn lớn, không quốc gia sản xuất hay tiêu thụ nào có thể giải quyết một mình vì tất cả đều là nạn nhân.

Hoa Kỳ đã tỏ ra tích cực trong việc bài trừ ma túy vì quyền lợi và sức khỏe của dân chúng Mỹ đang bị đe dọa. Từ đầu thập niên 1980 đến nay, Hoa Kỳ đã hợp tác chặt chẽ với các chính quyền Miến Ðiện và Thái Lan trong việc bài trừ ma túy. Số lượng ma túy sản xuất từ hai quốc gia này mỗi năm là bao nhiêu đều được biết rõ, chỉ riêng tại Lào con số vẫn còn bí ẩn. Theo tổ chức ODCCP, Lào là quốc gia sản xuất thuốc phiện đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Miến Ðiện và Afghanistan. Số đất đai canh tác cây á phiện tại đây tăng đều mỗi năm, tăng 40% từ 1992 đến nay. Tám tỉnh Bắc Lào canh tác 26.800 hecta đất rừng, cung cấp mỗi năm 125 m3 thuốc phiện (tương đương 2.140 tấn/năm), một con số báo động cho một quốc gia có dân số chưa tới 4,5 triệu người vì 57% lượng thuốc phiện được tiêu thụ ngay trong nước.

Ðối với chính quyền Pathet Lào, thủ phạm chính là người Hmong. Trong thời chiến tranh, địa bàn cư trú của người Hmong bị bom đạn tàn phá nên phải di tán về đồng bằng, việc canh tác cây á phiện bị đình trệ. Năm 1976 phần lớn người Hmong di tản sang Thái Lan tị nạn, nhưng từ khi Thái Lan đóng cửa các trại tị nạn, người Hmong trở về quê cũ đông hơn. Ðời sống thiếu thốn buộc người Hmong trở về nghề canh tác cây á phiện. Với thời gian, sản lượng thuốc phiện do người Hmong cung cấp tăng lên nhanh chóng vì các trung tâm sản xuất khác đang bị Hoa Kỳ, qua trung gian chương trình bài trừ ma túy (UNDCP-Drug Control Program của Liên Hiệp Quốc), ngăn chặn. Lào vẫn còn là một ngoại lệ trước khi Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao năm 1992.

Chiến dịch bài trừ ma túy tại Lào không phải chỉ mới đây, nó bắt đầu từ năm 1985 khi các phái đoàn tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích đã đến Lào làm việc trên các vùng rừng núi, những vùng canh tác á phiện đều được phát giác, phần lớn nằm trong khu vực sinh trú của người Hmong. Người Mỹ đã hoạt động tích cực tại Lào từ 1960 đến 1973 và còn tiếp tục sau đó, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Lào chưa bao giờ bị cắt đứt. Sau 1975, các cơ quan phát triển quốc tế (USAID-Agency for International Development) và thông tin (USIA-Information Agency) của Hoa Kỳ vẫn còn hoạt động tại Lào nhưng ở mức tối thiểu.

Một vấn đề lương tâm đặt ra cho Hoa Kỳ là làm sao ngăn cản người Hmong sản xuất thuốc phiện mà không bị họ phiền lòng? Trước kia người Hmong đã theo Mỹ chống lại quân cộng sản một cách cuồng nhiệt và ngày nay còn đang trả giá cho chọn lựa này. Nhưng quyền lợi và sức khỏe của dân Mỹ quan trọng hơn hết, Hoa Kỳ không thể nương tay trong vụ này. Cách hay nhất là bán cái cho Liên Hiệp Quốc, vừa không mang tiếng phản bội đồng minh cũ, vừa ngăn chặn được nguồn sản xuất thuốc phiện. Chính sách bài trừ ma túy của Hoa Kỳ là giúp đỡ các quốc gia sản xuất thuốc phiện phá hủy các vùng canh tác cây á phiện mà vùng rừng núi tại Bắc Lào là một trong những trung tâm chính. Từ 1989 đến nay, tổ chức bài trừ và ngăn ngừa tội ác của Liên Hiệp Quốc, do Hoa Kỳ chủ động, đã giúp chính phủ Pathet Lào trên 80 triệu USD để phá hủy những vùng trồng cây á phiện, năm 2000 dự trù sẽ giúp thêm 4,7 triệu USD.

Sáu quốc gia liên quan tới khu Tam Giác Vàng (Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchea, Trung Quốc và Việt Nam) cũng thế, từ 1993 chương trình bài trừ ma túy của Liên Hiệp Quốc đã tài trợ nhiều số tiền lớn để phá hủy những nơi sản xuất thuốc phiện. Miến Ðiện là quốc gia hợp tác ngay từ đầu, mục đích của nhóm quân phiệt Rangoon không phải để ngăn chặn buôn lậu thuốc phiện mà là được thế giới nhìn nhận như là một chính quyền hợp pháp. Khun Sa không những không bị đe dọa mà còn có biệt thự riêng tại Rangoon và xây một xa lộ từ Khu Tam Giác Vàng ra biển Aman để chuyển vận thuốc phiện ra các bến cảng. Thái Lan tuy bề ngoài tỏ vẻ hợp tác với chương trình bài trừ ma túy nhưng bên trong vẫn để cho quân đội và cảnh sát biên phòng làm tiền các đoàn áp tải thuốc phiện xuống Vịnh Thái Lan. Trung Quốc cũng lợi dụng sự giúp đỡ này mở rộng ảnh hưởng xuống phía Nam để kiểm soát nguồn thuốc phiện sản xuất tại đây. Chỉ còn lại ba nước Ðông Dương cộng sản. Hoa Kỳ đã làm đủ mọi cách để ba nước này hội nhập bình thường vào cộng đồng quốc tế để tham gia chương trình bài trừ ma túy. Tại Kampuchea, từ sau 1991, lực lượng UNTAC của Liên Hiệp Quốc kiểm soát gắt gao vùng biên giới giáp ranh với Lào, ngăn chặn luồn chuyển vận thuốc phiện trên sông Mékong, các đoàn áp tải phải băng qua biên giới Thái Lan và Việt Nam giao hàng.

Từ sau 1986 Vientiane mở cửa đón nhận đầu tư quốc tế. Một số tư nhân và công ty Ðài Loan và Thái Lan do người Hoa làm chủ cũng nhân cơ hội vào Lào khai thác nguồn thuốc phiện sản xuất tại đây mang đi nơi khác. Các đường dây buôn lậu ngày càng công khai, quân đội và cán bộ Pathet Lào cũng được móc nối để tham gia áp tải thuốc phiện về các thành phố lớn giao cho các tư nhân và công ty vừa nói. Ðụng độ võ trang và thanh toán nội bộ xảy ra thường xuyên giữa các nhóm buôn lậu, một vài tay phiêu lưu người Pháp nhảy vào kiếm ăn nhưng bị loại ra nhanh chóng. Tình trạng vô chính phủ tại Bắc Lào vẫn còn kéo dài cho tới ngày nay.

Tại Việt Nam, sau khi được Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận năm 1992, bộ đội và công an biên phòng vào Sơn La và Lai Châu khuyến dụ người Hmong phá hủy những vườn trồng cây á phiện. Một số làng chấp nhận phá hủy với điều kiện Hà Nội giúp đỡ họ canh tác các loại hoa màu khác (trà và cà phê) và cho phép du khách ngoại quốc tự do đến thăm viếng để có thêm lợi tức. Một số làng khác từ chối hợp tác, làng xã, nhà cửa và vườn tược của họ liền bị phá hủy, những người chống cự lại đều bị giết, một số khác bị bắt, số còn lại chạy qua Lào lánh nạn.

Trước nguồn lợi do thuốc phiện mang lại, bộ đội, công an biên phòng và nhiều cán bộ cao cấp khác trong chính quyền cũng tham gia phong trào buôn lậu. Sự tham lam quá đáng của những người này làm nản chí các công ty Hoa kiều Ðông Nam á và Ðài Loan chỉ vào Việt Nam khai thác nguồn thuốc phiện từ Bắc Lào mang vào, phần lớn đã rời Việt Nam sang Miến Ðiện và Thái Lan. Từ 1992 trở đi, lượng ma túy thay vì được các nhóm Hoa Kiều vừa nói trung chuyển sang những quốc gia khác đã được tiêu thụ tại chỗ, giới trẻ Việt Nam là những nạn nhân trực tiếp. Những án tử hình không làm nản chí những người buôn bán và áp tải, một người bị bắt hàng chục người khác vào thay. Lên án Hà Nội xuất khẩu thuốc phiện cũng hơi oan vì làm gì có thị trường tiêu thụ để mà xuất khẩu, tất cả những đường dây mua bán hay phân phối đều nằm trong tay những băng đảng xã hội đen do Quốc Dân Ðảng hải ngoại nắm giữ. Lực lượng Khun Sa cũng chỉ là người cung cấp cho các tổ chức này mà thôi.

Không riêng gì Việt Nam, Hoa Kỳ cũng là nạn nhân trực tiếp của thuốc phiện, nạn nghiện ngập trong giới trẻ Hoa Kỳ cũng đang ở mức báo động. Chính vì thế, từ thập niên 1990 Hoa Kỳ đã tích cực giúp Hà Nội và Vientiane, qua trung gian chương trình bài trừ ma túy, phá hủy các vùng sản xuất thuốc phiện. Người Hmong tố cáo không quân Việt Nam đã rải chất độc màu da cam do Liên Xô sản xuất xuống những nơi canh tác của họ tại Bắc Lào và Bắc Việt Nam. Nhưng chiến dịch bài trừ này không phải dễ vì miền Bắc Lào nằm trong khu Tam Giác Vàng, địa bàn hoạt động của nhóm Khun Sa. Với số tiền do thuốc phiên mang lại, lực lượng võ trang của Khun Sa được trang bị rất tối tân, có cả hỏa tiễn phòng không và chống chiến xa, đó là chưa kể lượng súng ống và mìn bẩy khổng lồ nằm trong tay những sắc tộc thiện chiến trong vùng rừng núi sẵn sàng chống trả lại bất cứ lực lượng nào muốn xâm nhập vào. Nhóm Khun Sa vẫn tiếp tục làm chủ các vùng sản xuất thuốc phiện tại miền Bắc Lào. Không phải tình cờ mà một phi cơ quân sự của Việt Nam bị rơi trên khu vực sản xuất thuốc phiện của người Hmong ngày 27-5-1998, làm thiệt mạng tổng tham mưu trưởng quân đội cộng sản Việt Nam, Ðào Trọng Lịch, cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác.

Sau chuyến viếng thăm của bộ trưởng quốc phòng Mỹ, William Cohen, tại Việt Nam tháng 5-2000, quyết tâm bài trừ ma túy của Hà Nội dứt khoát hơn. Mọi ngã ra vào khu vực cư trú của người Hmong tại Bắc Lào đều bị kiểm soát chặt chẽ, nguồn thuốc phiện không thoát ra được khiến người Hmong dưới trướng Khun Sa phản ứng. Quên đội Lào quá yếu để chống lại, phải nhờ Việt Nam. Sự can thiệp này chỉ nhằm ngăn chặn những nhóm buôn lậu chứ không phải để khống chế Lào.

Còn tướng Vang Pao? ông năm nay đã già (70 tuổi), hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ, không còn lãnh đạo lực lượng biệt kích Hmong nữa. Cộng đồng người Hmong tại Hoa Kỳ tuy khá đông (160.000 người) nhưng phần lớn làm nghề tay chân hay canh tác nông nghiệp, lợi tức kiếm được chỉ đủ sống không thể giúp người Hmong trong nước chống lại Vientiane như báo chí quốc tế loan tin. Những biến động võ trang hiện nay tại Lào chỉ giới hạn trong chương trình bài trừ ma túy.

Những vụ đặt bom gần đây tại một số thành phố lớn là một cảnh cáo của các nhóm buôn lậu do Khun Sa cầm đầu đối với chính quyền Vientiane: để họ yên thì sẽ được yên. Một giải pháp quân sự nhằm thay đổi chế độ chính trị tại Lào khó có thể trở thành hiện thực vì Thái Lan ngày nay không phải là Thái Lan của thập niên 1980. Thái Lan dung dưỡng một số phong trào chống đối võ trang tại Lào chỉ nhằm mục đích khuyến khích chính quyền Pathet Lào cởi mở hơn tại các cửa khẩu ra vào Thái Lan. Nguồn lợi khai thác gỗ rừng, quặng mõ, đá quí và thuốc phiện tại Lào không thể chỉ dành độc quyền cho Việt Nam. Trung Quốc cũng nhân cơ hội chiêu dụ Lào ngã về phía Trung Quốc bằng cách đề nghị giúp xây dựng hạ tầng cơ sở các tỉnh phía Bắc Lào, đồng thời võ trang các nhóm sắc tộc nhỏ trừ nhóm Khun Sa chống lại hay phá rối nền an ninh của Lào trước sự bất lực của phe thân chế độ cộng sản Việt Nam. Nếu một phần nguồn thuộc phiện và heroin sản xuất tại Lào được chuyển qua lãnh thổ Trung Quốc, rồi trung chuyển sang những quốc gia phương Tây khác, đó là một nguồn lợi lớn về ngoại tệ cho Trung Quốc. Thực ra, về ma túy, giới buôn lậu Trung Hoa chỉ là một.

Bài trừ được nạn ma túy không? Rất khó trả lời. Những tổ chức đầy lý tưởng như Quốc Dân Ðảng Trung Hoa, các đảng cộng sản Miến Ðiện và Thái Lan, các tổ chức tôn giáo của người Haw và Kachin, sau một thời gian dính líu đến thuốc phiện đều rời bỏ lý tưởng ban đầu để tham gia buôn lậu thuốc phiện. Cảnh sát và quân đội Thái Lan và Miến Ðiện cũng thế, tất cả đều có liên quan không nhiều thì ít vào các đường dây buôn lậu quốc tế. Tại Trung Quốc, không biết bao nhiêu án tử hình đã được thi hành mỗi năm, nhưng số người bị đưa ra trước cột xử bắn chưa có triệu chứng suy giảm, tăng thêm là đằng khác. Quân đội và cảnh sát biên phòng Việt Nam và Pathet Lào cũng rất khó làm ngơ trước nguồn lợi to lớn do dịch vụ này mang lại, nhiều vụ án lớn đã xảy ra trong đó có những sĩ quan và cán bộ cao cấp dính líu vào.

Vấn nạn ma túy vẫn còn và sẽ còn đe dọa mọi người chừng nào những băng đảng và tổ chức buôn lậu của người Hoa chưa bị phá vỡ. Nếu theo dõi kỹ sinh hoạt những công ty xuất nhập khẩu và hệ thống ngân hàng chằng chịt tại Ðông Nam á do người gốc Hoa làm chủ, người ta sẽ khám phá bằng cách nào lượng thuốc phiện du nhập vào các thị trường tiêu thụ quốc tế và số thu vào đã được tẩy trắng.

Nguyễn Văn Huy