|
|
|
|
|
2-3-2010
Bị lừa vì giao rừng cho công ty Trung Quốc
Người dân giao đất rừng cho công ty Trung Quốc đã bị lừa đau đớn, theo một bài viết ở trên báo điện tử Vietnamnet.
Bài báo này được phổ biến song hành với một bài phỏng vấn tướng hồi hưu Ðồng Sỹ Nguyên tiếp tục nêu ra các sự sai lầm lớn lao khi giao một diện tích lớn đất rừng đầu nguồn cho người Trung Quốc khai thác.
Theo bài viết trên VietnamNet ngày Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010, “Với lời hứa sẽ đền bù đất, cây, mở đường, đưa điện và tạo công ăn việc làm cho bà con thôn xóm, nhiều người dân ở xã Ðông Quan (huyện Lộc Bình, Lạng Sơn) đã đồng ý giao đất giao rừng cho công ty Innov Green (Hồng Kong-Trung Quốc, chi nhánh Lạng Sơn).” Nhưng trong thực tế lại khác hẳn.
VietnamNet nói người nông dân nghèo khổ “chưa được hưởng lợi gì từ dự án thì họ đã thấy mình bị ‘hớ.’”
Hớ ra sao? “Tiền làm thuê trồng rừng bị nợ, những lợi ích khác thì không thấy...”
Vì thấy bị lừa “Một số ít người dân còn lại thì nhất quyết không đồng ý giao đất rừng cho doanh nghiệp nước ngoài này vì họ không biết con cháu họ sẽ sống bằng gì trên vùng đất khó khăn này?”
Theo sự cảnh báo của hai tướng hồi hưu Ðồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, 10 tỉnh ở Việt Nam đã giao rừng đầu nguồn cho người Trung Quốc thuê dài hạn 50 năm để trồng cây bạch đàn làm nguyên liệu giấy cho kỹ nghệ Trung Quốc.
Nếu không có sự báo động của ông, hành động bán rừng của nhà cầm quyền CSVN gây hậu quả nghiêm trọng mọi mặt cho đất nước không ai biết đến ngoài những người liên hệ.
Hai ông đã gửi thư cho nhà cầm quyền Hà Nội yêu cầu chấm dứt ngay việc cho người Trung Quốc thuê rừng. Tuy theo luật đất đai năm 2003 của CSVN, tuy nhà cầm quyền các tỉnh được “phân cấp” để quản lý đất đai nhưng trách nhiệm vẫn là của nhà cầm quyền trung ương, đặc biệt là Nguyễn Tấn Dũng trong vai trò thủ tướng.
Diện tích rừng cho người Trung Quốc thuê trên 300 ngàn ha, mới chỉ là các con số sơ khởi. Thực tế chính xác ra sao, không ai biết.
“Ðất rừng ở ta không phải là nhiều, trong khi có nơi còn lấy đất rừng của dân để cho nước ngoài thuê là rất nguy hiểm,” Tướng Ðồng Sỹ Nguyên nói như thế trong cuộc phỏng vấn của tờ Tiền Phong ngày 1 tháng 3, 2010.
“Như tôi đã nêu trong thư kiến nghị, cho nước ngoài thuê rừng, nhất là rừng đầu nguồn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, hiểm họa. Người ta có thể chặt phá, khai thác bừa bãi mà hậu quả sẽ hết sức nghiêm trọng: thủy lợi hết nước, lũ lụt, lũ quét đổ về đồng bằng. Ðó là chưa kể mối đe dọa về an ninh quốc phòng.” Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói trong cuộc phỏng vấn của báo Pháp Luật ở Sài Gòn cũng ngày 1 tháng 3, 2010. “Cho thuê dài hạn lại càng không thể được. 50 năm là quá dài, ba thế hệ chứ có ít đâu. Phía doanh nghiệp nước ngoài sẽ đưa người sang khai thác, làm nhà, định cư, hình thành những cộng đồng dân cư ở một số vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng.”
Ông Nguyên đặt câu hỏi, “Tại sao dân ta thiếu việc làm, phải đi làm thuê ở Malaysia, Hàn Quốc, Ðài Loan... Ta sang họ thì làm thợ, còn họ sang ta làm thầy. Tại sao không giảm bớt phần tiền đầu tư vào bất động sản đưa sang trồng rừng, giảm lượng thất nghiệp, giúp người dân làm giàu.”
Mười tỉnh trong danh sách “bán rừng cho người Trung Quốc” là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Kon Tum và Bình Dương. (Trong bài viết của hai ông Ðồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh trên Boxitvn.net đề ngày 22 tháng 1, 2010, thấy chỉ nêu ra tên 9 tỉnh, còn thiếu một tỉnh không biết tỉnh nào.)
Ký giả của Vietnamnet tới xã Ðông Quan, huyện Lộc Bình là một xã miền núi nghèo để quan sát về hoạt động trồng rừng của công ty Trung Quốc. Ngoài nghề trồng lúa trên diện tích ruộng khô cằn thì đời sống của các gia đình dân trong xã chỉ biết trông chờ vào diện đất đồi núi để trồng rừng, chăn thả trâu bò.
Vietnamnet viết, “Ðời sống của bà con xã Ðông Quan cứ bình lặng trôi đi như cái nghèo ‘khó mà thay đổi được’ thì bất ngờ năm 2007, công ty Innov Green (Hồng Kông-Trung Quốc) vào thuê đất rừng với thời hạn 50 năm để trồng bạch đàn lấy gỗ công nghiệp.
Khi vào xã Ðông Quan, công ty có nguồn gốc nước ngoài này đã đem theo những lời hứa hẹn mở đường, đưa điện vào thôn và tạo công ăn việc làm cho bà con nên nhiều hộ dân đã tin tưởng giao đất rừng cho công ty và tiến hành trồng bạch đàn.
Theo VietnamNet, “Hàng chục hộ dân khác ở thôn Song Sài giao đất, rừng rồi làm thuê cho công ty này cũng đang bị nợ. Và đến nay khi nghe thông tin không được đền bù đất nữa thì họ không muốn giao đất cho công ty của người nước ngoài.”
“Giao rừng cho họ con cháu tôi làm gì để sống?”
Cũng vì thấy nhiều người đã bị lừa, nên không “cả tin” như các hộ dân giao đất rừng cho công ty Innov Green, nhiều gia đình trong thôn Song Sài và cả thôn Nà Lâu, xã Ðông Quan kiên quyết không giao đất rừng cho phía công ty Inno Green. Lý do mà các hộ dân không giao đất đưa ra: Tấc đất tấc vàng, mất đất mất việc làm.
Vietnamnet kể theo lời anh Lành Văn Nga (27 tuổi), ở thôn Song Sài, cuối năm 2007 đầu năm 2008 công ty Innov Green và người của UBND xã có đến yêu cầu gia đình anh giao 3.1 ha diện tích đất rừng cho công ty, nhưng anh nhất quyết không đồng ý.
Anh Nga bảo, “Khi công ty vào lấy đất rừng tôi kiên quyết không đồng ý vì thời hạn thuê đất 50 năm thì đời tôi coi như đã hết, nhưng đến đời con cháu tôi lấy đâu ra đất rừng để làm. Không có đất rừng thì chúng tôi chết đói vì ngoài mấy sào ruộng làm không đủ ăn, chúng tôi chỉ biết trông chờ vào diện tích đất rừng để trồng rừng và chăn thả.”
Người nông dân tên Nga này còn cho biết thêm, việc anh không đồng ý giao đất cho dự án không chỉ muốn giữ cho con cháu anh mà việc giữ đất còn là để giữ nước nữa.
Cũng như anh Nga, gia đình anh Vy Văn Ý ở thôn Song Sài được giao 3 ha diện tích đất rừng trồng thông theo dự án trồng thông làm giấy của tỉnh Sơn La từ năm 2004. Ðến nay dù diện tích thông còn sống không nhiều nhưng đất rừng là nơi để anh chăn thả trâu bò và những hàng thông đang lớn dần sẽ là vốn liếng để anh để lại cho con cháu anh sau này.
Theo lời anh Ý, “Trước đây với diện tích đất rừng chăn thả rộng chúng tôi nuôi trâu nuôi bò thả rất thoải mái, nhưng kể từ khi công ty Inno Green tiến hành trồng 60 ha bạch đàn từ diện tích đất rừng thì việc chăn thả trâu bò của các hộ dân chúng tôi cũng hết sức khó khăn.”
|
|
|
|
2-3-2010
Nguồn nước sông Hồng đang dần cạn kiệt
Sông Hồng cùng với sông Mekong đang cạn kiệt dần vì phía đầu nguồn Trung Quốc xây dựng quá nhiều các đập thủy điện, bất kể hậu quả mà những nước ở lưu vực của hai con sông trên phải gánh chịu.
Sông Hồng với chiều dài khoảng 1160 Km, trong đó phần chảy qua Việt Nam khoảng 510 Km, là con sông gắn liền với nền văn minh lúa nước của người Việt cổ. Sông Hồng bắt nguồn tận dãy Ngụy Sơn trên đất Trung Quốc để rồi sau đó tuôn xuống hạ lưu với hàng trăm cây số chảy vòng qua nhiều tỉnh của Trung Quốc trước khi đến Việt Nam. Trên lãnh thổ Trung Quốc sông Hồng mang tên Nguyên Giang và khi chảy vào Việt Nam con sông lại mang nhiều tên khác nhau, khi thì Hồng Hà, sông Cái, đoạn từ Lào Cai đến ngã ba Bạch Hạc lại mang tên sông Thao. Khi về đến Hà Nội thì lại được gọi là Nhĩ Hà hay Nhị Hà.
Cho dù thay tên thế nào thì người dân Việt vẫn có một tên chung để gọi con sông một cách trìu mến: Sông Hồng.
Người Hà Nội hãnh diện với sông Hồng vì nhiều lẽ, nó gắn liền với đời sống người dân thị thành cũng như nhiều khu vực ngoại ô Hà Nội mà con sông chảy qua, đã bồi đắp cho đời sống người nông dân hai bờ sông từ đời này sang đời khác. Đê sông Hồng cũng gắn liền với biết bao câu chuyện đời thường mà cuộc sống người dân chống chỏi với những cơn lũ bằng mồ hôi và đôi khi cả máu cùng nước mắt để sống cạnh con sông nhiều biến đổi này.
Trong những ngày đầu năm Canh Dần, có lẽ người dân hai bên dòng sông Hồng lại phải chống chọi với một biến đổi khác của con sông vốn khó tính này. Lần này không phải là lũ mà ngược lại, con sông đang cạn kiệt. Người Hà Nội sững sờ nhìn dòng sông thân thương của họ bỗng dưng trong một sớm mai đã không còn là con sông Hồng nữa. Phải gọi là suối thì đúng hơn vì trẻ con có thể chạy nhảy dưới dòng nước nay chỉ còn đến lưng bọn trẻ. Người ta tự hỏi rồi đây, nếu cứ cạn kiệt dần thế này thì sông Hồng sẽ còn thọ thêm bao lâu nữa.
Theo báo chí trong nước thì hiện nay mực nước sông Hồng đã xuống dưới 0,1m, tức là dưới cả mực nước biển, và nhiều đoạn sông chảy qua Hà Nội chỉ còn rộng chưa tới nửa thước. Mực nước xuống kỷ lục này là hậu quả của nhiều nguyên nhân mà biến đổi khí hậu được các nhà hoạt động môi trường mang ra soi rọi đầu tiên để tìm kiếm căn nguyên khắc phục. GSTSKH Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm MTĐT&CN cho biết ý kiến của ông:
Thứ nhất là thay đổi thời tiết, năm nay mùa thu, mùa đông của miền Bắc có lượng mưa rất ít, giảm so với các năm khác khoảng 20-30%. Thứ hai nữa tình trạng khai thác đầu nguồn của các tỉnh phía Nam Trung Quốc làm các hồ chứa nước ở đầu nguồn nên nguồn nước chảy về quá ít.
Sông Hồng là một thủy lộ quan trọng của nhiều tỉnh nó chảy qua nếu tiếp tục cạn kiệt như thế thì người dân lo rằng sinh hoạt kiếm sống hai bên bờ sông cùng các phương tiện vận chuyển sẽ trở nên bế tắc. Tuy không màu mỡ như giòng Mekong nhưng sông Hồng cũng có hàng ngàn ngư dân sống nhờ vào dòng chảy của nó, vì vậy cạn sông cũng đồng nghĩa với cạn kiệt nguồn sống của bao gia đình sống dọc hai bên bờ.
Sông Mekong chảy từ Trung Quốc xuống các nước hạ nguồn cũng đang gặp tình trạng tương tự như sông Hồng. Tờ báo Bangkok Post của Thái Lan vừa đăng một bài viết mạnh mẽ lên án Trung Quốc chính là tác nhân làm cho dòng Mekong cạn kiệt.
Tờ báo nói rằng chính Trung Quốc đã quyết định đóng cửa đập trữ nước tại Vân Nam đã gây ra tình trạng khô kiệt nguồn nước khiến cho khu vực của tỉnh Chiang Rai thuộc miền bắc Thái Lan tới cố đô Luang Phabang của Lào nay đã ngừng chảy vì nước quá cạn. Tàu chở hàng của Trung Quốc cũng mắc kẹt tại Chiang Saen thuộc Chiang Rai.
Tờ Bangkok Post cũng nói rằng Trung Quốc xây dựng những đập nước trên vùng thượng lưu sông Mekong là trái với quy định và luật lệ quốc tế.
Thế còn sông Hồng thì sao, có phải sự cạn kiệt của sông Hồng cũng có yếu tố Trung Quốc hay không?
Hai con sông Mekong và sông Hồng đều cùng một nơi phát xuất và cùng mang những vấn nạn như nhau. Trung Quốc không ngưng việc xây dựng các đập thủy điện đầu nguồn của hai con sông này vì quyền lợi quốc gia của họ nên thường đưa ra những chống chế trước quốc tế. Thế nhưng thái độ của các nước lưu vực của hai con sông này mới là tác nhân chính để Trung Quốc chùn bước trên con đường khai thác cạn kiệt nguồn nước.
Các nước hạ nguồn trước tiên cần những bài báo phân tích trên cơ sở khoa học phân phát rộng rãi trong cộng đồng để cư dân hai bên bờ sông có khái niệm cụ thể. Bên cạnh đó. chính phủ các nước phải gắn bó với nhau đem bằng chứng khoa học để thuyết phục Trung Quốc là cách hay nhất để nước này xét lại các kế hoạch của mình.
GSTS Đặng Kim Chi, Phó Viện trưởng Viện KH&CN Môi trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội cho rằng muốn thuyết phục các nước đầu nguồn ngưng những công trình của họ thì Việt Nam phải có những cơ sở khoa học chứng minh sự tác hại của những đập thủy điện hơn là chỉ nói qua cảm tính.
Tôi cho biến đổi khí hậu nguy hiểm nhất là vấn đề sụp lở và lũ sông Hồng. Đối với tôi thì vấn đề này hết sức quan trọng vì biến đổi khí hậu dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước. Ngoài vấn đề thời tiết thì tôi thấy việc khai thác ở thượng lưu và đây là vấn đề chung cho tất cả các nước vùng hạ lưu.
Vừa rồi Lào cũng định làm một nhà máy thủy điện trên sông Mekong và khi đánh giá tác động môi trường thì đặt ra vấn đề: nếu đặt ở Lào thì cả vùng hạ lưu sông Mekong sẽ thiếu nước, và dòng chảy cũng thay đổi. Một công hàm hay ý kiến với một chính phủ ta phải có cơ sở khoa học để thuyết phục, hiện nay tất cả hoàn toàn đều mang tính dự đoán chưa có một số liệu cụ thể nào để minh chứng. Chúng ta chỉ nghi ngờ mà thôi.
Việt Nam không thiếu các nhà khoa học để bắt tay vào việc chứng minh dòng chảy sông Hồng bị cạn vì các đập đầu nguồn như ý kiến của GSTS Đặng Kim Chi. Cái thiếu mà Việt Nam đang gặp là nhà nước chưa sẵn sàng để tập trung các nhà khoa học ngồi lại làm những nghiên cứu như các nước láng giềng. Sự nhún nhường quá mức trong bàn cờ ngoại giao không những làm tiếng nói của Việt Nam đã nhỏ lại càng thêm nhỏ trước dư luận quốc tế mà nó còn gây tâm lý nhược tiểu nơi cách nghĩ của người dân ngày càng rõ và sâu nặng hơn trong mọi ứng xử.
Ít ra thì Thái Lan cũng là nước dám lên tiếng chỉ trích Trung Quốc trên báo chí. Dư luận càng mong báo chí Việt Nam cũng có những bài viết đàng hoàng như thế trước khi sự việc trở nên quá muộn.
|
|
|
|
2-3-2010
TQ: „Việt Nam sẽ thất bại trong việc ‘quốc tế hóa’ biển Đông
Có nhiều phần chắc Việt Nam sẽ tìm cách thuyết phục các quốc gia láng giềng cũng như các nước trên thế giới tham gia các cuộc đàm phán về lãnh hải với Trung Quốc liên quan tới tranh chấp ở biển Đông.
Nhật báo Anh ngữ China Daily của Trung Quốc, trích lời các phân tích gia cho rằng nỗ lực đó của Việt Nam nhiều khả năng sẽ ‘bất thành’.
Hồi cuối tháng 11 năm 2009, Hà Nội đã tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế bàn về vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông với sự tham gia của hơn 150 học giả và giới chức từ nhiều nơi trên thế giới, trong đó có cả từ Trung Quốc.
Báo China Daily trích dẫn lời ông Tô Hạo, Giám đốc Trung tâm Quản lý Xung đột và Chiến lược Trung Quốc, nói rằng ‘hội thảo này mang động cơ chính trị’.
Ông Tô, một người tham dự cuộc hội thảo đó, cho rằng Việt Nam ‘rõ ràng đang tìm cách quốc tế hóa’ vấn đề biển Đông. Ông này được trích lời nói, xin trích: ‘Việt Nam đang đưa vấn đề (biển Đông) trở thành đa phương, với sự tham gia của cả nhiều nước ngoài khu vực châu Á. Tuy nhiên, chiến lược này sẽ không thành công vì Trung Quốc phản đối bước đi này’.
Ông Tô cũng cho rằng Trung Quốc cần phải giữ nguyên sách lược đàm phán ‘song phương’ nhằm giải quyết cuộc tranh chấp ở biển Đông, thay vì ‘với nhiều nước cùng lúc’.
Trả lời VOA Việt Ngữ từ Hà Nội trước thông tin của tờ China Daily, ông Dương Danh Dy, một chuyên gia về quan hệ Việt – Trung, người từng nắm giữ chức vụ Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, nói:
“Điều rất kỳ lạ là tại Hội nghị biển Đông họp ở Việt Nam ngày 26 – 27/11 năm ngoái, mặc dù Trung Quốc có sáu đại biểu tới tham dự, và trước những lời công kích trực diện của một số đại biểu tham dự hội nghị tới từ các nước, thì tôi thấy thái độ của các đại biểu Trung Quốc rất ôn hòa. Họ không gay go, không đáp lại như tại các cuộc hội thảo khác. Nhưng ngay sau đó thì lập tức phía Trung Quốc bắt đầu tập trung chủ yếu vào công kích, cái mà họ gọi là ý đồ muốn quốc tế hóa vấn đề biển Đông của Việt Nam, và cho tới gần đây thì càng ngày càng cao giọng. Và hiện nay, dư luận của họ tập trung vào chuyện quy tội cho Việt Nam chủ xướng chuyện quốc tế hóa biển Đông. Tất cả là nhằm vào Việt Nam. Họ dùng một câu như thế này: ‘Muốn bắt giặc thì phải bắt vua, bắt chúa’, tức là trong cái ‘giặc’ Đông Nam Á này, thì anh ‘chúa’, anh ‘vua’ Việt Nam là nguy hiểm nhất. Đánh tan Việt Nam rồi thì các nước khác dễ dẹp hơn. Thông tin trên mạng Hoàn Cầu chính thức của Trung Quốc đấy!”
Trong khi đó mới đây, một giới chức hải quân hàng đầu của Trung Quốc, Thiếu tướng Doãn Trác, đã bày tỏ quan ngại về việc các quốc gia thành viên thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đang tăng cường các hạm đội tàu ngầm ở khu vực biển lân cận với Trung Quốc và coi đó là ‘một mối đe dọa’ đối với nước này.
Đánh giá về lo ngại này, ông Dương Danh Dy cho rằng việc lên tiếng như vậy nhằm ‘chống chế với thế giới và dư luận trong nước’.
Ông Dương nói: “Lực lượng hải quân, lực lượng tàu ngầm của các nước ASEAN cộng lại cũng không bằng Trung Quốc, mạnh bằng Trung Quốc. Chẳng qua theo tôi, đó là một cách họ lên tiếng như vậy để cho dư luận thế giới đỡ chú ý tới việc tăng cường của họ và để cho nhân dân trong nước thấy rằng họ phải tăng cường ngân sách quốc phòng, cần tăng cường hải quân là vì những yếu tố bên ngoài như vậy thôi. Chứ còn thực ra 6 cái tàu ngầm Kilo của Việt Nam, mấy cái tàu ngầm của Malaysia… thì làm sao địch nổi (với Trung Quốc). Hiện nay họ có hơn 60 tàu ngầm trong đó có cả tàu ngầm nguyên tử."
Liên quan tới Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung hơn 30 năm trước, tờ China Daily mới đây cũng cho đăng một bài viết, thúc đẩy nhanh việc thành lập Ngày Cựu chiến binh nhằm ‘ghi công’ những binh sĩ Trung Quốc tham gia cuộc chiến ngắn ngày nhưng khốc liệt này.
Liên quan tới thông tin này, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu nói:
“Xung quanh chuyện 30 năm cuộc chiến biên giới, trong khi phía Việt Nam vì giữ đại nghĩa cho nên im lặng, không đề cập đến thì trên mạng của họ hầu như ngày nào cũng có bài viết lên tinh thần rồi gương hy sinh dũng cảm. Không những thế, họ còn có những chuyện, những kịch bản, bài hát về cuộc chiến tranh biên giới đó. Điều đó chứng tỏ là nội bộ Trung Quốc hiện nay đang có những chuyện đấu tranh gay gắt trong nội bộ với nhau”.
Trong một diễn biến khác, hôm thứ Hai, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh của Việt Nam cam kết sẽ đẩy mạnh mối quan hệ song phương với Trung Quốc.
Hãng tin Tân Hoa Xã cho biết ông Mạnh đưa ra cam kết đó trong cuộc gặp với phái đoàn Đảng Cộng sản Trung Quốc do ông Vương Gia Thụy, Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương dẫn đầu và hiện ở thăm Việt Nam.
|
|
|
|
2-3-2010
TQ quan ngại việc VN mua tàu ngầm
Một giới chức hải quân hàng đầu của Trung Quốc cuối tuần qua đã bày tỏ quan ngại về việc các quốc gia thành viên thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong đó có Việt Nam, đang tăng cường các hạm đội tàu ngầm ở khu vực biển lân cận với Trung Quốc.
Hãng tin của Nga RIA Novosti dẫn lại tin của hãng Trung Quốc Tân Văn Xã cho biết Thiếu tướng Hải quân của nước này, ông Doãn Chác, nói rằng các nước ASEAN đang tìm cách ‘thống trị’ khu vực vùng biển phía Nam Trung Quốc và điều đó là ‘một mối đe dọa’ đối với nước này.
Ông Doãn được trích lời nói: ‘Nếu tình trạng này tiếp diễn như hiện nay, trong một vài năm nữa, các nước ASEAN sẽ thiết lập các lực lượng hải quân hùng mạnh. Điều đó sẽ trở thành một thách thức đối với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc’.
Theo hãng RIA Novosti, vị thiếu tướng hải quân Trung Quốc cũng đề cập tới việc Việt Nam mới ký hợp đồng mua tàu ngầm cũng như ‘đã bắt đầu triển khai xây dựng một căn cứ tàu ngầm ở phía đông eo biển Malacca giữa Malaysia và đảo Sumatra của Indonesia’.
Hãng tin của Nga cũng đưa tin rằng trong những năm gần đây, một số nước ASEAN đã mua các loại tàu ngầm hiện đại chạy bằng động cơ diesel - điện từ Nga và các quốc gia châu Âu khác.
Theo RIA Novosti, Singapore mua tàu ngầm hạng Vastergotland của Thụy Điển; Malaysia mua tàu ngầm Scorpene của Pháp và Italia, trong khi Việt Nam đã ký hợp đồng hồi năm ngoái mua sáu tàu ngầm Project 636 của Nga.
Với các hợp đồng trị giá nhiều tỷ đôla gần đây, Việt Nam đã trở thành quốc gia mua nhiều vũ khí từ Nga trong năm 2009 và chỉ đứng sau Ấn Độ.
|
|
|
|
 |
|
|
 |
|