|
|
|
|
|
19-2-2008
Các nhà tranh đấu dân chủ dự đám tang ông Hoàng Minh Chính
Những nhân vật tranh đấu cho dân chủ Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã đến dự đám tang ông Hoàng Minh Chính, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, qua đời vào thượng tuần tháng hai, thọ 85 tuổi.
Theo tin của các hãng thông tấn quốc tế và những người tham dự, trong số khoảng 500 người đến dự tang lễ hôm thứ bảy tại Hà nội, có nhiều nhân vật bất đồng chính kiến - từ những người thuộc thế hệ cao niên như các ông Nguyễn Thanh Giang, Lê Hồng Hà cho đến những người trẻ như các ông Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Quốc Quân, và Nguyễn Tiến Trung. Bên cạnh đó còn có những nhà tranh đấu thuộc phong trào Dân Oan và những tu sĩ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị nhà nước cấm hoạt động.
Theo ghi nhận của phái viên AFP, tang lễ của ông Hoàng Minh Chính là một sự kiện có tính cách chính trị diễn ra dưới sự theo dõi chặt chẽ cùa cảnh sát.
Một nhà hoạt động cho dân chủ ở Hà nội, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, cho biết rằng buổi lễ đã diễn ra khá suông sẻ, tốt đẹp, tuy có vài trục trặc nho nhỏ và có một số nhân vật bất đồng chính kiến ở Sài Gòn, Đà Lạt và một số nơi khác đã bị chính quyền ngăn chận không cho đi Hà nội.
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nói: "Ngoài những trục trặc -như là công an bắt bỏ đi mấy băng tang trên các vòng hoa, bắt thay đổi; nếu những băng tang đó ghi là nhân danh một tổ chức, một hội đoàn nà đấy thì bị bóc bỏ đi và thay thằng cái khác. Rồi cũng có cái việc là xô đẩy, rất tí ti, một vài người hơi quá khích. Nhưng mà nói chung thì tang lễ tổ chức như vậy là êm đẹp, không có gì đáng tiếc lắm xảy ra."
Bản tin của hãng thông tấn Reuters trích lời bác sĩ Phạm Hồng Sơn, người từng bị giam cầm trong nhiều năm vì dịch và phổ biến bài viết 'Dân chủ là gì?' từ trang nhà của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, nói rằng ông Hoàng Minh Chính là người đã cống hiến cuộc đời cho công cuộc đấu tranh vì dân chủ và tự do. Đầu đội vành khăn tang, thường chỉ dành cho thân nhân của người quá cố, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn nói thêm rằng những người thuộc thế hệ trẻ như ông quyết tâm theo đuổi con đường của giáo sư Hoàng Minh Chính.
Luật sư Trần Lâm, người biện hộ cho các luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, đã đọc điếu văn tại tang lễ. Theo nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, sự kiện điếu văn này được tuyên đọc mà không có sự cản trở của công an, cảnh sát cho thấy rằng tình hình chính trị Việt Nam đã có đôi chút tiến bộ so với những năm trước.
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nói: "Điếu văn đó cũng là một bản điếu văn rất hay, nói được cơ bản những cái nét chính trong cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ Hoàng Minh Chính - từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cho đến cuộc cách mạng nhằm dân chủ hóa Việt Nam. Điếu văn đó có những câu, chữ mà cách đây chỉ một vài năm thôi đã bị xem là húy kị và bị dừng lại ngay, không cho phát biểu ở đấy. Nhưng đến hôm nay tình hình đã khá thành ra cũng được nói. Ví dụ như cụ Trần Lâm nói đến ông Hoàng Minh Chính - và đã nói đúng, là một lần tù Tây và ba lần tù dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng có một câu đánh giá cụ Hoàng Minh Chính, cũng như đánh giá chung những người vốn đi làm cách mạng nhưng sau khi nhận thức ra những điều không đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, của những sự sai lầm của đảng Cộng Sản Việt Nam khi mà tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lê Nin và dắt dẫn con đường dân tộc vào những con đường uẩn khúc sai lầm. Có câu này nhiều người ghi nhận ngay: 'ông Hoàng Minh Chính đã xuất phát từ lòng yêu nước thiết tha mà làm người Cộng Sản và cũng vì lòng yêu nước thiết tha mà ông Hoàng Minh Chính đã từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản. Câu ấy là một câu đánh giá mà nhiều người dân chủ ở đấy thấy là đánh giá chính họ'."
|
|
|
|
19-2-2008
LHQ: Vật giá tăng cao khiến nhiều người VN trở lại cảnh đói nghèo
Trong nhiều năm qua vật giá ở Việt Nam không ngừng gia tăng. Đặc biệt vào khoảng 1 năm nay giá sinh hoạt leo thang phi mã khiến đời sống của nhiều tầng lớp dân chúng bị ảnh hưởng nặng nề.
Tình hình tăng quá cao của vật giá ở Việt Nam bắt đầu gây quan tâm công luận nước ngoài. Văn phòng Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam mới đây lên tiếng cảnh báo về hậu quả tai hại của vấn đề giá sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay. Biên tập viên Nhã Trân, đài RFA, có thêm chi tiết qua cuộc phỏng vấn ông Jonathan Pincus, kinh tế gia của UNDP Việt Nam.
Nhã Trân: Kính chào ông Jonathan Pincus và cám ơn ông đã dành cho Đài Á Châu Tự Do cuộc phỏng vấn này. Thưa ông, giá sinh hoạt ở Việt Nam đang tiếp tục tăng, đặc biệt từ giữa năm 2007, riêng nhóm thực phẩm lên hơn 22%.
Văn phòng Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam vừa tuyên bố rằng vật giá ở Việt Nam hiện đã tăng đến mức nghiêm trọng. Xin ông cho biết vì sao UNDP cho rằng mức ấy đã nghiêm trọng?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Chúng tôi vô cùng quan ngại trước sự tăng giá của lương thực, thực phẩm ở Việt Nam lúc này, bởi vì như chúng ta biết, Việt Nam hiện vẫn còn là một nước nghèo, và thực phẩm chiếm phần lớn ngân sách, có lẽ đến cả nửa chi tiêu của những người nghèo hoặc khốn cùng, tức chỉ trên mức đói túng một chút hay ở dưới cả mức này.
Nhã Trân: Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam khẳng định rằng giá lương thực, thực phẩm tăng sẽ tác động mạnh đến đời sống của những người dân có thu nhập thấp thưa ông?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Vâng. Chúng tôi lo lắng về điều này và đang quan sát rất kỹ. Tiếc là chúng tôi không có các dữ liệu mới nhất, vì vậy khó mà theo dõi một cách chi tiết, tuy nhiên từ rất nhiều bằng chứng, chúng tôi biết rằng giá sinh hoạt tăng đang gây áp lực đối với những gia đình nghèo.
Nhã Trân: Vấn đề giá sinh hoạt tại Việt Nam và giá lương thực, thực phẩm nói chung tăng quá cao đã được bàn đến nhiều. Theo ý kiến của UNDP thì căn nguyên của sự tăng giá phi mã này là gì?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Bên cạnh sự tăng giá của nhiên liệu, nguyên nhân đến từ bên ngoài, vật giá tại Việt Nam tăng còn bởi một lý do khác. Yếu tố này phát sinh trong nội bộ, đó là sự lạm phát của tiền tệ. Lạm phát tiền tệ xảy ra ở Việt Nam hiện giờ bắt nguồn từ việc ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam, làm tăng lượng tiền lưu hành trên thị trường nội địa, và vì sự quản lý không chặt chẽ đúng mức của giới lãnh đạo về vấn đề tiền tệ.
Những điều này đã khiến giá thực phẩm và các mặt hàng khác ở Việt Nam tăng lên.
Nhã Trân: Thưa kinh tế gia Jonathan Pincus, tính đến đầu tháng 2, 2008, giá lương thực thực phẩm ở Việt Nam tăng trên 22%, vượt mức năm ngoái 14%, là mức tăng lớn nhất ở Việt Nam kể từ năm 1995.
Đây có phải là vấn đề riêng của Việt Nam chăng, khi giá cả leo thang phi mã, đặc biệt là trong vài tháng gần đây?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Đây là một vấn đề có tính cách toàn cầu mà mỗi quốc gia phải đối phó, và kế đó là vấn đề thuộc về địa phương, tức nội bộ Việt Nam, nhiều hơn.
Không chỉ riêng Việt Nam mà mọi quốc gia đều phải đối phó với vấn đề này. Các nước khu vực Đông Nam Á đang cố gắng kềm giữ giá gạo, đã tăng chủ yếu do giá nhiên liệu của thị trường thế giới tăng.
Nhã Trân: Như ông vừa nói thì Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt. Theo chúng tôi biết thì giới lãnh đạo Việt Nam đã có biện pháp tuy nhiên hiện chưa đạt kết quả mong muốn.
Theo ông thì Việt Nam cần có giải pháp nào để cứu vãn tình hình?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Tìm sự cân bằng về lượng tiền lưu hành trên thị trường và sự cân bằng về chính sách, để có được một nhận định rõ về cả hai mặt của vấn đề, là điều cần làm ngay bây giờ.
Nhã Trân: Xin ông vui lòng cho biết cụ thể về biện pháp này được chăng. Thưa, theo ông thì lý do vật giá ở Việt Nam tăng quá cao như hiện nay bắt nguồn từ hai lý do chính là sự tăng mạnh của giá nhiên liệu và vì lạm phát tiền tệ. Vấn đề giá sinh hoạt tăng có thể được khống chế bằng những chính sách nào?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Rõ ràng là có những điều mà chính quyền có thể làm,cả về ngắn hạn lẫn dài hạn. Về thời gian lâu dài, tôi nghĩ điều cần làm là thận trọng hơn, theo dõi tình hình phát triển của tín dụng và của lượng tiền lưu hành.
Theo tôi nghĩ, giới thẩm quyền đã biết rõ điều này, dựa vào những chính sách họ đã ban hành năm nay như chúng ta thấy, và có lẽ chúng ta sẽ thấy thêm nhiều thay đổi trong chính sách vào những ngày sắp tới.
Còn về ngắn hạn, có nhiều lựa chọn khác nhau. Cụ thể như đối phó với giá lương thực thực phẩm, chính quyền có thể đánh thuế trên mặt hàng gạo xuất khẩu, từ đó giúp giảm giá gạo trên thị trường nội địa.
Tôi không chắc chính quyền Việt Nam có chịu thực hiện điều này chăng, vì có thể họ quan tâm đến thu nhập của giới nông gia, những người trồng lúa, số lớn thuộc diện nghèo.
Vì vậy, đây là vấn đề cần được xem xét, tìm sự quân bằng giữa lợi và hại.
Nhã Trân: Trong các giải pháp ông vừa đề nghị thì biện pháp nào được kể là quan trọng nhất, hoặc cần thi hành ngay, trước khi tình hình trở nên tệ hơn?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Điều quan trọng nhất, và quan trọng cho thời gian lâu dài, là làm sao để nền kinh tế không bị trở nên quá nóng, làm sao để giới hạn phát triển của tín dụng và tăng trưởng của lượng tiền lưu hành, để Việt Nam có thể duy trì nền kinh tế vĩ mô, khá thành công trong một thời gian dài, từ 20 năm nay.
Nhã Trân: Câu cuối xin được hỏi lại ông, trong nhận định vừa rồi ở Hà Nội về vấn đề vật giá tại Việt Nam, ngoài báo động rằng tình hình đã nghiêm trọng, ông còn cho biết có thể một đại bộ phận dân chúng sẽ rơi trở lại mức đói nghèo, mà họ đã thoát khỏi lâu nay?
Kinh tế gia Jonathan Pincus: Vâng. Khi vật giá tăng, rõ ràng là sức mua của những gia đình nghèo hoặc đói túng bị giảm bớt. Điều này có thể khiến rất nhiều người bị rơi trở lại dưới mức nghèo khổ, điều mà lâu nay Việt Nam đã thành công qua các chương trình xoá đói giảm nghèo.
Nhã Trân: Xin cảm ơn ông Jonathan Pincus, kinh tế gia của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam, về các ý kiến đối phó với tình trạng vật giá đang lên ở Việt Nam hiện nay.
|
|
|
|
19-2-2008
Nông dân Việt Nam khốn đốn vì thiên tai, dịch bệnh
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hôm thứ Hai 18-2 ước lượng đợt rét vừa qua đã làm thiệt hại ít nhất 80 tỷ đồng. Bộ vừa kiến nghị chính phủ hỗ trợ khẩn cấp gần 150 tỷ đồng để nông dân tái gầy giống lúa và đàn gia súc.
Trong khi đó, tin cho biết có thêm 2 tỉnh có ổ dịch cúm gia cầm mới phát hiện là Quảng Ninh và Thái Nguyên.
Ông Bùi Quang Anh, Cục trưởng Cục Thú y Việt Nam, cảnh báo dịch bệnh trên gia cầm đang diễn tiến hết sức phức tạp. Khả năng dịch bùng phát trên diện rộng là hoàn toàn có thể xảy ra nếu đại đa số người dân không có ý thức phòng chống.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng và Môi trường Việt Nam, thì cho là trách nhiệm hàng đầu vẫn là ở các cơ quan chức năng, lực lượng thú y và y tế chưa phối hợp tốt. Ông cũng bày tỏ quan ngại về tỷ lệ tử vong do cúm gia cầm gây ra quá cao tại Việt Nam. Kể từ năm 2003 đến giờ, đã có tất cả 104 người bị nhiễm cúm gia cầm, trong số đó có 50 người chết.
Trong lức nông dân Việt Nam đang phải gánh chịu mức thiệt hại được cho là lớn nhất trong lịch sử, thì cán bộ viên chức lại tìm cách trốn tránh trách nhiệm.
Báo cáo từ các địa phương tính đến nay cho hay số gia súc chết rét ở các địa phương lên đến hơn 34 ngàn con, gần 40% diện tích lúa đã cấy ở miền Bắc bị chết. Tận tỉnh Thừa Thiên- Huế, cơ quan chức năng cho hay nông dân tại đây cũng đang đối mặt với tình trạng mất mùa trầm trọng do giá rét kéo dài.
Trong khi đó các bộ ngành trung ương đang đổ lổi cho nhau về những thiệt hại mà nguời nông dân ở nhiều địa phương phải gánh chịu. Báo Tuổi Trẻ hôm nay đăng phỏng vấn một số quan chức liên quan.
Theo trả lời của ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, thì Ngành khí tượng thủy văn chỉ có những bản tin dự báo thời tiết chung chung, và Cục trồng trọt không được thông báo hay có những dự báo, cảnh báo vụ đông xuân năm nay sẽ có rét đậm, kéo dài sớm.
Ông Nguyễn Xuân Dương, Cục phó Cục Chăn nuôi thì cho rằng không lường trước được mức độ rét đậm, rét hại kéo dài đến thế. Ông Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh của Bộ Y tế cũng nói là dự báo thời tiết chỉ báo trước mấy ngày khiến các bệnh viện lúng túng tiếp nhận bệnh nhân.
Ở cấp địa phương từ phường, xã trở lên thì các báo cáo về mức độ thiệt hại cũng chậm chạp như than phiền của ông Hà Văn Quý, giám đốc Sở Nông nghiệp- Phát triển Nông thôn tỉnh Điện Biên, sau khi sở gọi điện xuống các địa phuơng để yêu cầu báo cáo cho sở về thiệt hại liên quan.
|
|
|
|
19-2-2008
Dù cướp biển hoành hành, ngư dân Việt vẫn không ai bảo vệ
Ngư dân thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đang xôn xao bàn tán khi có tới ba tàu đánh cá, với 59 ngư dân, cùng là cư dân ở thị trấn này bị cướp biển bắt giữ rồi đòi tiền chuộc. Lúc đầu, số tiền bọn cướp đòi chuộc lên tới 20,000 USD/tàu. Sau nhiều lần thương lượng, số tiền chuộc giảm xuống còn 7,500 USD/tàu.
Theo ông Diệp Hồng Tiễn, chủ tàu đánh cá mang biển kiểm soát số CM 99331 TS, một trong bà con tàu ở thị trấn Sông Ðốc bị cướp biển bắt giữ: Không biết đó là cướp hay lính Campuchia nhưng chắc chắn là đã bị bắt thì như cá nằm trên thớt. Có lần, khi một tàu ở thị trấn này bị bắt, hai bên đang ngã giá qua điện thoại thì tụi nó lôi người của mình ra đánh, kiểu đó thì ai mà dám chần chừ, có bán nhà cũng phải làm để chuộc họ về!
Ông Ðàm Quốc Sinh, thuyền trưởng tàu đánh cá mang biển kiểm soát số CM 99398 TS, một trong những người vừa được chuộc về kể: “Chúng tôi đang đánh cá cách đảo Thổ Chu khoảng 10 hải lý thì một chiếc canô màu xám, gắn hai động cơ 200 mã lực trờ tới với gần 20 tay súng mặc đồng phục màu xám. Họ ào lên thuyền, cướp tay lái và lùa chúng tôi ra phía mũi tàu rồi lái về hướng Campuchia. Có tới bốn tàu bị cướp như vậy. Chạy vài tiếng thì đến một khu vực có nhiều đảo nhỏ, các thuyền trưởng bị dẫn tới gặp một ‘ông lớn’ để gọi điện thoại về nhà đề nghị trả tiền chuộc. Ngư dân thì bị giam dưới tàu. Từ khi bị giữ tới lúc được thả còn bị buộc phải vác gỗ cho ‘ông lớn’ để đóng một chiếc tàu to dùng để chứa dầu của các con tàu bị bắt. Ngoài khoản tiền chuộc 7,500/tàu, 'ông lớn' còn ẵm thêm khoảng 50 triệu đồng Việt Nam từ việc bán dầu và bán các 'chiến lợi phẩm' có giá trị trên mỗi con tàu bị bắt”.
Ðáng chú ý là việc giao tiền chuộc người diễn ra trên đất Campuchia chứ không phải trên biển và chủ các con tàu tự đàm phán, tự chạy tiền, tự nộp để chuộc tàu, chuộc người. Chủ tàu và gia đình ngư dân không báo với nhà cầm quyền Việt Nam để nhờ can thiệp vì họ không tin vào hiệu quả.
Tờ Tuổi Trẻ dẫn các số liệu của Sở Thủy Sản Cà Mau cho biết, trong 10 năm qua (từ 1998 đến hết năm 2007), riêng ở Cà Mau có 124 tàu đánh cá bị cướp biển bắt, tịch thu hoặc đốt, cướp biển chỉ cho chuộc lại một số nhỏ. Trong đó, ngoài cướp biển, có khá nhiều vụ ngư dân Việt Nam bị hải quân: Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar bắt giữ. Ngư dân Cà Mau cho biết, trên biển, hung hãn nhất là biên phòng và hải quân Campuchia bởi các lực lượng này hành xử hệt như cướp. Theo thống kê của Sở Thủy Sản Cà Mau, trong 124 tàu đánh cá bị nước ngoài bắt giữ, biên phòng và hải quân Campuchia bắt giữ tới 61 tàu và đòi tiền chuộc với nhiều giá khác nhau, từ 1,130 USD đến 20,000 USD/tàu.
Một viên trung tá tên là Lương Hoàng Ðông, phó tham mưu trưởng bộ đội biên phòng Cà Mau, cho biết: “Chúng tôi chưa khẳng định có cướp biển hay không, bởi khi bị các lực lượng của Campuchia bắt giữ, ngư dân không khai báo mà tự lo chuộc tàu và người về. Ðiều đó khiến chúng tôi gặp khó khăn trong công tác phối hợp với phía Campuchia để làm rõ. Tuy nhiên, qua điều tra những vụ tàu đánh cá của ngư dân Cà Mau bị các lực lượng của Campuchia bắt, chúng tôi khẳng định, hiện đang có ít nhất là một lực lượng nào đó của Campuchia chuyên bắt tàu đánh cá Việt Nam và đòi tiền chuộc. Chúng tôi đang cố gắng làm rõ vấn đề này”.
Năm 1998, Việt Nam thành lập lực lượng cảnh sát biển. Ngoài việc tuần tra, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hải phận của mình, lực lượng này còn có trách nhiệm tìm kiếm, cứu nạn, chống buôn lậu và chống cướp biển. Tuy nhiên hoạt động của lực lượng này rất hạn chế.
Nếu thử điểm lại các vụ cướp biển từng xảy ra đối với ngư dân Việt Nam ngay trên lãnh hải Việt Nam, có thể thấy rất rõ điều đó. Cướp biển đã hoành hành ở vùng biển từ Kiên Giang đến Cà Mau suốt từ thập niên 1990 đến nay và từ hải quân, biên phòng đến cảnh sát biển Việt Nam đều cùng bất lực. Trong đó, táo tợn và tàn bạo nhất là hai vụ cướp xảy ra hồi đầu năm 2004. Ngày 1 tháng 2 năm 2004, hai chiếc tàu đánh cá mang biển kiểm soát số KG 01và KG 1583TS của Kiên Giang đã bị cướp biển tấn công, một ngư dân bị bắn chết tại chỗ, 18 ngư dân trên hai tàu bị nhốt vào hầm nước đá. Sau khi lái tàu chạy sâu vào hải phận Thái Lan, cướp biển đạp cả 18 xuống biển. Sau đó, một tàu buôn của Malaysia vớt được 15 người, ba người khác mất tích. Ngày 1 tháng 3 năm 2004, tàu Thành Long 11 ở Tiền Giang bị cướp biển tấn công. Cướp biển đã bắn 2/11 ngư dân bị thương nặng rồi vứt cả 11 người xuống biển.
Cướp biển không chỉ hoành hành ở vùng biển từ Kiên Giang đến Cà Mau mà còn tấn công nhiều tàu đánh cá của ngư dân miền Trung. Trong một phóng sự do tờ Tuổi Trẻ thực hiện vào ngày 25 tháng 2 năm 2004, ông Nguyễn Văn Liền, trưởng ban tài chính kiêm người quản lý nghề thủy sản của xã Tam Giang, huyện Núi Thành, kể: “Trong nhiều năm qua, ngư dân xã Tam Giang liên tục bị cướp biển tấn công, đã có năm tàu bị cướp nhưng không ai báo cáo với chính quyền địa phương. Do cướp biển, nhiều chủ tàu và ngư dân trắng tay. Nếu tính từ năm 1980 đến năm 2004, riêng xã Tam Giang đã 30 ngư dân mất tích vì cướp biển và sau đó chỉ vớt được xác của sáu người. Chưa có cơ quan nào thống kê số người mất tích vì cướp biển trong toàn tỉnh Quảng Nam bởi ngư dân cho rằng đó là chuyện sinh nghề, tử nghiệp”. Cũng thời điểm này, một viên đại tá tên Lê Thanh Tùng, là chỉ huy trưởng bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Nam, cho biết: “Ðã gửi nhiều văn bản cho Bộ Tư Lệnh Biên Phòng và Bộ Ngoại Giao báo cáo tình hình tàu của Trung Quốc thường xuyên xâm hại vùng biển khu vực miền Trung để đánh bắt trộm hải sản, đồng thời cướp hải sản của ngư dân Quảng Nam”.
Việt Nam gần như không công bố thống kê nào thật sự đầy đủ về tình trạng cướp biển hoành hành trong lãnh hải Việt Nam. Ngày 8 tháng 6 năm 2004, Thông Tấn Xã Việt Nam công bố một thống kê từ đầu năm 2003 đến giữa năm 2006, theo đó, cướp biển đã bắt cóc 64 tàu đánh cá Việt Nam, bắn bị thương 1 người, cưỡng đoạt 106,450 USD, 614,000 baht, 430 triệu đồng và nhiều tài sản khác. So sánh với thực tế đã được báo chí Việt Nam tường thuật, thống kê này không chính xác, ít nhất về thiệt hại nhân mạng. Ðiều đó có thể là vì nhà cầm quyền Việt Nam không muốn thú nhận họ bất lực trong việc bảo vệ lãnh hải và ngư dân Việt Nam.
Tuy tàu đánh cá Việt Nam thường xuyên bị cướp nhưng các vụ bắt giữ cướp biển rất hiếm hoi. Thỉnh thoảng, báo chí Việt Nam mới đưa tin hải quân hoặc biên phòng, hoặc cảnh sát biển bắt giữ một vài tàu “lạ” xâm nhập lãnh hải, đánh bắt hải sản trái phép. Ngày 28 tháng 6 năm 2006, báo chí Việt Nam đưa tin bộ đội biên phòng Ðà Nẵng, bắt được bốn tên cướp biển người Campuchia thì hai ngày sau, cướp biển tấn công hai tàu đánh cá của Ðà Nẵng để trả đũa.
|
|
|
|
19-2-2008
Dịch cúm gia cầm có thể lan rộng
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, ngày 17 tháng 2, bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã gửi một công điện đề nghị các bộ, các ngành và UBND các địa phương thực hiện ngay các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm. Cục Thú Y của Việt Nam cho biết, dịch cúm gia cầm đã tái phát tại Thái Nguyên, Quảng Bình hồi trước Tết và mới tái phát tại Quảng Ninh, Long An. Cục Thú Y Việt Nam cho rằng, thời tiết lạnh giá cùng với việc nhập lậu, vận chuyển, buôn bán gia cầm tràn lan là nguyên nhân chính khiến dịch cúm gia cầm liên tục tái phát.
Trên số ra ngày 18 tháng 2, tờ Sài Gòn Giải Phóng cho biết, tại Hà Nội, bất kể dịch cúm gia cầm đang tái phát và khả năng cúm gia cầm có thể lây nhiễm cho người, việc mua bán gia cầm tại các chợ ở Hà Nội vẫn diễn ra bình thường. Phóng viên tờ Sài Gòn Giải Phóng miêu tả: Việc mua bán, giết mổ gia cầm vẫn diễn ra tại các chợ. Mặt đất nhầy nhụa lông gà, lông vịt xen lẫn nước thải từ các chậu nước dùng để làm gà, vịt văng tung tóe. Một hàng dài những cái chén nhựa nhỏ đựng tiết vừa cắt xong được để luôn xuống nền, bên cạnh vài bộ lòng chưa kịp làm, và không hề thấy nhân viên y tế hay thú y “thăm hỏi”. Chỉ có rất ít khách tỏ ra e dè, cảnh giác trước dịch cúm gia cầm. Chủ một quầy buôn bán gà vịt lườm những người khách hỏi: “Gà có kiểm dịch không hả chị?” - rồi mắng xối xả: “Dở hơi à, đầu năm đã ám. Người ta bán buôn ở đây hàng ngày, hàng toàn loại bảo đảm, sao lại phải kiểm dịch. Rõ lắm chuyện, mua ở đây còn sợ thì ra lề đường mà mua gà chết”. Một người khách phụ họa: “Từ Tết đến giờ, cả nhà tôi đã làm mấy bữa tiết canh, chả ai làm sao cả. Gà, vịt đã được tiêm thuốc phòng bệnh hết rồi, có gì mà phải lo”.
Theo báo chí Việt Nam, từ đầu năm tới nay đã có 3 trường hợp nhiễm cúm A H5N1 tử vong. Một tiến sĩ tên Nguyễn Huy Nga, cục trưởng Cục Y Tế Dự Phòng và Môi Trường thuộc Bộ Y Tế Việt Nam từng cảnh báo: “Nếu không siết chặt việc giám sát dịch tại các địa phương và dân chúng vẫn thờ ơ trước loại dịch nguy hiểm này thì dịch cúm gia cầm và cúm A H5N1 sẽ lại bùng phát mạnh mẽ”.
Phóng viên tờ Sài Gòn Giải Phóng kể rằng, một tiến sĩ tên Nguyễn Hồng Hà, viện phó Viện Lâm Sàng Các Bệnh Nhiệt Ðới Quốc Gia, tỏ ra rất lo âu vì các ca nhiễm cúm A H5N1 nhập viện và tử vong trong giai đoạn từ đầu năm tới nay, đều có nguyên nhân sâu xa từ việc giết mổ, ăn thịt gia cầm bệnh. Ông Hà cho biết, bệnh nhân 40 tuổi ở Hải Dương tử vong ngày 13 tháng 2 hay trường hợp bệnh nhân 27 tuổi, ở Ninh Bình tử vong đêm 14 tháng 2 đều là những ca có liên quan đến việc làm và ăn thịt gia cầm bị dịch. Cũng theo ông Hà: Ðáng lo là các ca bị nhiễm cúm gia cầm đều nhập viện khi bệnh đã rất nặng, kéo dài nhiều ngày. Nguyên nhân là do người bệnh và thân nhân không đi khám khi có dấu hiệu bị bệnh.
Trước nguy cơ dịch cúm gia cầm lại tái phát trên diện rộng, Bộ Y Tế Việt Nam đã yêu cầu lực lượng y tế ở các địa phương phối hợp chặt chẽ với thú y, giám sát dịch bệnh. Ðồng thời tuyên truyền, thuyết phục dân chúng không giết mổ, buôn bán gia cầm ốm, chết. Mặt khác, cần chú ý tới những địa phương chưa từng công bố có dịch cúm gia cầm. Cả ba ca tử vong do cúm A H5N1 vừa xảy ra đều ở những địa phương chưa bao giờ bị cúm gia cầm.
Trong vài năm qua, cúm gia cầm đã làm nhiều gia đình nông dân Việt Nam kiệt quệ và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã nhiều lần công bố dập xong dịch cúm gia cầm nhưng dịch cúm gia cầm lại tái phát ngay sau đó.
|
|
|
|
19-2-2008
Việt Nam phát hành tín phiếu dưới hình thức bắt buộc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết: họ sẽ đòi hỏi các ngân hàng và tổ chức tín dụng mua một số lượng tín phiếu một năm trị giá 20 ngàn 300 tỉ đồng, tương đương với 1 tỉ 270 triệu đô la, để rút bớt số tiền lưu hành.
Theo tin hôm thứ hai của hãng thông tấn tài chánh Dow Jones, đây là lần đầu tiên ngân hàng trung ương của Việt Nam phát hành tín phiếu dưới hình thức bắt buộc để thu hồi lượng tiền lưu thông và là một hành động để chống lại nạn lạm phát đang leo thang.
Một thông cáo của Ngân hàng Nhà nước nói rằng: trong những tháng đầu năm 2008, tăng trưởng kinh tế khá thuận lợi nhưng chỉ số giá tiêu dùng được dự báo có nguy cơ tăng ở mức cao, do đó việc phát hành tín phiếu bắt buộc có mục đích rút bớt tiền từ lưu thông, chủ động kiểm soát chặt chẽ tiền tệ để góp phần kiềm chế lạm phát.
Theo ghi nhận của phái viên Dow Jones, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong tháng giêng đã tăng với tỉ lệ 14% tính theo năm và các kinh tế gia dự báo lạm phát sẽ tiếp tục tăng trong những tháng sắp tới. Nhập lượng vốn nước ngoài tăng mạnh đã tạo ra tình trạng dư dôi lượng tiền trong lưu thông và tăng thêm áp lực lạm phát đối với giá cả của các mặt hàng tiêu dùng, đặc biệt là giá thực phẩm.
Số tín phiếu sẽ được phát hành vào trung tuần tháng 3 có lãi suất 7,8% mỗi năm và đáo hạn vào năm 2009.
Trong một nỗ lực khác nhằm ngăn chận lạm phát được thực hiện hồi tháng trước, ngân hàng trung ương của Việt Nam đã gia tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc và nâng lãi suất chủ đạo của các khoản cho vay bằng tiền đồng lần đầu tiên trong vòng hơn hai năm.
|
|
|
|
 |
|
|
 |
|