1-8-2009

Nghiên cứu tác động của đập thuỷ điện sông Mêkông bắt đầu

Một tổ chức theo dõi đa quốc vừa bắt đầu tiến hành một cuộc nghiên cứu về những dự án phát triển thuỷ điện trên sông Mê Kông và tác động của những dự án này đối với hàng chục triệu cư dân trong vùng.

Bản tin do hãng thông tấn AFP đánh đi từ Hà Nội hôm thứ sáu trích lời ông Damian Kean, phát ngôn viên của Ban thư ký của Uỷ hội Sông Mê Kông ở Lào, nói rằng cuộc nghiên cứu sẽ giúp cho các quốc gia bị ảnh hưởng của những dự án thuỷ điện quyết định về việc có nên xúc tiến các dự án đó hay không.

Ông Kean nói thêm rằng kết quả cuộc nghiên cứu dự kiến sẽ được công bố vào tháng 7 hoặc tháng 8 năm 2010.

Uỷ hội Sông Mê Kông (MRC) là một cơ quan liên chính phủ phụ trách mọi vấn đề liên quan tới sông Mê Kông, bao gồm các lãnh vực ngư nghiệp, nông nghiệp và quản lý lũ lụt.

Một thông cáo báo chí của MRC cho biết 11 dự án thuỷ điện đang được nghiên cứu bởi 3 nước Kampuchea, Lào và Thái Lan; nhưng ở Trung Quốc đã có 8 dự án thuỷ điện trên thượng nguồn đã được thực hiện hoặc đang trong vòng qui hoạch.

Trung Quốc không phải là thành viên của Uỷ hội Sông Mê Kông nhưng trong tuần này họ đã tham dự hội nghị hàng năm tổ chức ở Lào với 4 nước thành viên của uỷ hội là Việt Nam, Lào, Kampuchea và Thái Lan.

Phát ngôn viên Damian Kean cho hay sự tham dự của Trung Quốc tại hội nghị này là một sự kiện quan trọng. Ông nói thêm rằng Trung Quốc là một đối tác đối thoại và điều này cho thấy họ đang xem xét một cách khá nghiêm túc tới những mối quan tâm của các nước ở hạ nguồn.



1-8-2009

Họp báo tại Hạ viện Mỹ về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Một nhóm Dân biểu quan tâm đến Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ mới đây đã gửi thư ngỏ tới Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết, yêu cầu phóng thích các 'tù nhân chính trị và tôn giáo' ở Việt Nam nhân ngày Quốc khánh 2 tháng 9. Trong buổi họp báo hôm 30 tháng 7, nữ Dân biểu Loretta Sanchez một lần nữa cho rằng 'vẫn còn tình trạng thiếu tự do tôn giáo và ngôn luận ở Việt Nam' đồng thời kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ cần phải nhấn mạnh với Hà Nội rằng 'không thể tiếp tục bác bỏ quyền của người dân'.

Trong danh sách hơn 100 'tù nhân chính trị và tôn giáo' mà các vị Dân biểu Hoa Kỳ gửi kèm bức thư tới Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết, ngoài những cái tên đã nhiều lần được nhắc tới trên các diễn đàn nhân quyền như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài hay Lê Thị Công Nhân, hay mới nhất là luật sư Lê Công Định, còn có hàng chục người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Trong bức thư, các vị Dân biểu ‘bày tỏ sự quan ngại về tình trạng giam cầm nhiều tù nhân chính trị và tôn giáo ở Việt Nam’ chỉ vì họ đã ‘bày tỏ quan điểm tôn giáo và chính trị’. Trong khi đó, Hà Nội từng nhiều lần lặp lại quan điểm rằng không có tù nhân chính trị ở Việt Nam, mà chỉ bắt giữ những người vi phạm pháp luật.

Các nhà làm luật Hoa Kỳ còn viết rằng nhiều người bị bắt theo ‘các điều luật an ninh quốc gia mơ hồ, không tuân thủ các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế cũng như bị đưa ra xét xử mà không được đại diện bào chữa hợp lý’.

Các dân biểu cuối cùng đã kêu gọi Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết trợ giúp việc phóng thích ‘các tù nhân đó một cách vô điều kiện và không giới hạn’.

Trong buổi họp báo công bố bức thư, một vấn đề được các vị dân biểu nhấn mạnh là việc kêu gọi đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC).

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak từng cho rằng 'không đủ bằng chứng' để làm như vậy.

Khi được hỏi vì sao có sự khác biệt trong quan điểm giữa các dân biểu quan tâm tới vấn đề Việt Nam và đại diện ngoại giao Hoa Kỳ ở Hà Nội, ông Cao Quang Ánh, một trong các Dân biểu ký vào bức thư trên, nhận định với VOA Việt Ngữ rằng 'có thể ông ấy (Đại sứ Michalak) không muốn nói những lời nặng để ảnh hưởng tới quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam.’

Ông Ánh nói: “Tất cả những người ở trong quốc hội và những người thuộc nhóm dân biểu quan tâm tới Việt Nam ai cũng phải đồng ý rằng (quan điểm của) ông Michael Michalak là sai. Những bằng chứng và những việc làm của Cộng sản Việt Nam trong hai, ba năm vừa qua rõ ràng nói cho cả thế giới biết là họ không chú ý tới tự do tôn giáo, tự do nhân quyền cho người dân mà họ chỉ có chú ý tới kinh tế và quyền lợi. Những cái gì không mang tới quyền lợi cho họ thì họ sẽ đàn áp và bỏ những người chống vô tù.”

Hồi tháng Sáu, trả lời câu hỏi của đài VOA về việc một số Việt Kiều không hài lòng về chuyện ông phát biểu là chưa có bằng chứng đưa Việt Nam trở lại CPC, ông Michalak trả lời, 'Hoa Kỳ là một đất nước tự do nên ai cũng có thể bày tỏ quan điểm của mình. Nếu lúc nào mọi người cũng hài lòng với công việc tôi làm, tôi không nghĩ tôi đã làm đúng công việc của mình.’

Dân biểu gốc Việt đầu tiên tại Hạ viện Hoa Kỳ cũng cho biết ông và các Dân biểu quan tâm tới Việt Nam như Loretta Sanchez, Ed Royce, Chris Smith hay Frank Wolf sẽ tiếp tục gây sức ép ở Quốc hội và tiếp tục 'đề xuất các dự luật để đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC cũng như giới hạn Việt Nam trong các vấn đề kinh tế'.

Ông Ánh nói tiếp: “Nếu Hoa Kỳ muốn cho Việt Nam các quyền lợi về kinh tế thì chính phủ Hoa Kỳ phải đưa ra các điều kiện để đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi tất cả những hành động liên hệ tới tự do tôn giáo và nhân quyền cho người dân ở trong nước. Chúng tôi ở trong Quốc hội sẽ ép và đưa ra những chương trình để hy vọng một ngày nào đó Cộng sản Việt Nam sẽ chú ý tới tự do tôn giáo và quyền lợi cho người dân. Và tôi hy vọng ngày thay đổi đó sẽ tới càng sớm càng tốt.”

Nữ Dân biểu Loretta Sanchez Trước câu hỏi về chuyện Washington đang còn bận tâm tới các 'điểm nóng' khác như Miến Điện, Bắc Triều Tiên hay Iran, bà Sanchez nói bà cùng với các Dân biểu khác sẽ tìm cách để chính quyền Obama nắm bắt các vấn đề của Việt Nam và tìm cách giải quyết.

Nữ Dân biểu này cũng cho biết bà sẽ sớm gặp Ngoại trưởng Hillary Clinton để bàn về Việt Nam.

Hồi đầu tháng Bảy, 37 Thượng nghị sĩ thuộc cả 2 chính đảng lớn nhất Hoa Kỳ cũng đã gửi một thư ngỏ đến Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết, yêu cầu trả tự do cho Linh Mục bị cầm tù Nguyễn Văn Lý.

Nhiều năm qua, ngày quốc khánh 2/9 và Tết Nguyên Đán là thời điểm Việt Nam thường ân xá và tha trước thời hạn các tù nhân được coi là đã 'cải tạo tốt.'



1-8-2009

Hơn 1/3 đất ở 6 tỉnh miền Trung vẫn bị ô nhiễm bom mìn

Hơn 1/3 đất đai ở 6 tỉnh miền trung Việt Nam tiếp tục bị ô nhiễm vì bom mìn, vật nổ còn sót lại sau cuộc chiến tranh Việt Nam.

Theo tin của hãng thông tấn AP, kết quả một cuộc điều tra công bố hôm thứ 6 cho thấy rằng gần 35 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, thường dân Việt Nam vẫn thường xuyên bị thiệt mạng và bị thương vì bom mìn còn sót lại.

Theo ước tính của phía Việt Nam, từ năm 1975 tới nay hơn 42,000 người đã thiệt mạng vì những tai nạn bom mìn.

Cuộc điều tra vừa kể được thực hiện theo dự án “Điều tra, Khảo sát và đánh giá tác động của sự ô nhiễm bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh ở Việt Nam”, với sự phối hợp của Quĩ Cựu Chiến Binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF) và Bộ Quốc phòng Việt Nam thông qua Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn (BOMICEN).

Hôm thứ sáu, VVAF và BOMICEN đã tổ chức một cuộc họp báo tại Hà Nội để công bố kết quả điều tra tại 6 tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, và Quảng Ngãi.

Dự án này đã xác định 3,124 khu vực có bom mìn với tổng diện tích chiếm hơn 1/3 diện tích đất đai của 6 tỉnh, trong đó Quảng Trị là tỉnh có diện tích và tỉ lệ bom mìn cao nhất.

Trưởng đại diện VVAF tại Việt Nam, bà Nguyễn Thu Thảo, cho biết công tác dọn sạch bom mìn và vật nổ vẫn còn mất rất nhiều thời gian nữa mới hoàn tất.

Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak cho biết kết quả cuộc điều tra này có ích cho việc ấn định thứ tự ưu tiên cho công tác dọn mìn trong tương lai.

Ông Michalak nói rằng việc dọn sạch bom mìn còn sót lại từ những cuộc chiến tranh trong quá khứ là một vấn đề quan trọng đối với người dân Việt Nam cũng như đối với nước Mỹ. Ông cho biết từ năm 1989 đến nay Hoa kỳ đã cung cấp 46 triệu đô la để trợ giúp cho công tác dọn dẹp mìn bẫy ở Việt Nam.

Trong khi đó, bản tin hôm thứ Sáu của hãng thông tấn Reuters trích lời Đại tá Phan Đức Tuấn của Bộ Tư lệnh Công binh Việt Nam nói rằng với tiến độ như hiện nay, phải mất 300 năm và tiêu tốn hơn 10 tỉ đô la công tác này mới có thể hoàn tất.



1-8-2009

VN: Nhiều tỉnh, thành phố chưa có kế hoạch chống cúm A/H1N1

Bộ trưởng Y tế Việt Nam cho biết cho biết chỉ có 34 trong tổng số 64 tỉnh và thành phố ở Việt Nam có kế hoạch phòng chống cúm A/H1N1 mặc dù bệnh này đang lây lan nhanh chóng.

Bản tin hôm thứ năm của Tân Hoa Xã trích thuật tin tức báo chí Việt Nam nói rằng Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu đã cho biết như thế hôm thứ tư tại Hà Nội trong cuộc họp hàng tuần của Ban chỉ đạo trung ương phòng chống cúm A/H1N1.

Ông Triệu nói thêm rằng trong tuần qua dịch cúm này đã lây lan ở nhiều trường học và văn phòng trên cả nước.

Tại cuộc họp này, người đứng đầu ngành y tế Việt Nam yêu cầu các tỉnh có dịch cúm A/H1N1 thiết lập bệnh viện dã chiến ở những nơi cần thiết như trường học, công sở hay khu công nghiệp có bệnh nhân cúm.

Báo chí Việt Nam cho biết Bộ Y tế dự trù mua thêm các loại thuốc Tamiflu và Relenza.

Giới hữu trách cũng yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu chuẩn bị đủ khẩu trang y tế để đáp ứng nhu cầu của nhân viên y tế và công chúng.

Tính đến chiều thứ tư ngày 29 tháng 7, Việt Nam đã ghi nhận tổng cộng 763 trường hợp dương tính với vi rút cúm A/H1N1.



1-8-2009

Indonesia ra lệnh đóng cửa trại Galang cũ

Chính phủ Indonesia ra lệnh đóng cửa khu vực trại tị nạn Galang cũ từng là nơi tạm cư của hàng trăm ngàn người Việt trên đường vượt biên chạy trốn Cộng Sản và chờ đi định cư ở một nước thứ ba. Hành động này đang bị chính quyền tỉnh Batam phản đối và cho rằng nên mở rộng chứ đừng bắt đóng.

Theo một bản tin trên tờ Jakarta Post hôm Thứ Bảy, trước áp lực của nhà cầm quyền Hà Nội, chính phủ Indonesia ra lệnh đóng cửa hẳn trại Galang hiện đang được hàng ngàn du khách ngoại quốc thăm viếng hàng năm, đem lợi tức đáng kể cho ngành du lịch của tỉnh này.

Ông Trần Ðông, giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, trụ sở tại Úc, xác nhận với Người Việt hôm 1 Tháng Tám, rằng: “Chính phủ Indonesia đang cân nhắc việc đóng cửa di tích thuyền nhân tại Galang, đồng bào hải ngoại cần phản ứng cấp thời.”

Ông Trần Ðông cho biết, đại diện Bộ Ngoại Giao Indonesia sẽ về tiểu bang Batam vào ngày 5 Tháng Tám để thảo luận với các quan chức địa phương về vấn đề này.

Khoảng 250,000 người Việt Nam và một số người Cam Bốt đã vượt biên đường biển chạy đến Indonesia tị nạn Cộng Sản sau khi Việt Nam Cộng Hòa và Cam Bốt rơi vào tay Cộng Sản năm 1975. Chính phủ Indonesia đã cho dựng trại tị nạn trên diện tích khoảng 80 mẫu Tây, đặt dưới sự quản trị của Cơ Quan Ðịnh Cư Tị Nạn LHQ.

Hàng ngàn người, mà một vài sự ước lượng cho rằng nửa triệu người tị nạn Việt Nam, đã chết trên biển Ðông khi rơi vào tay hải tặc, giông bão, tàu hỏng máy. Nhiều câu chuyện hãi hùng đã được những người sống sót kể lại không thể nào đau xót uất hận hơn. Hải tặc hiếp vợ hiếp con gái trước mặt chồng, mặt bố. Thuyền chết máy trôi dạt trên biển, người còn sống sót sau cùng nhờ ăn thịt người đã chết và uống nước tiểu. Mỗi một câu chuyện vượt biên là một thiên trường hận không thể nào quên được của một đời người.

Phương tiện vượt biên của người tị nạn Việt Nam thường là những ghe gỗ mỏng manh đóng vội, có khi chỉ là một số thùng rỗng cột lại thành cái bè. Không hải bàn, thiếu thực phẩm và nước.

Rất nhiều ghe chở cả trăm người tị nạn Việt Nam khi đến được đảo Galang chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. Những ghe chìm xuống biển với tất cả mọi người trên đó không phải họa hiếm.

Vì thời gian chờ đợi khá lâu trên đảo Galang sau khi được phỏng vấn đi định cư, nơi đây như một thành phố với có đủ nhà thờ, chùa, trường dạy sinh ngữ, hàng quán. Hàng trăm người đã chết trên đảo nay còn mộ phần và thân nhân đến thăm viếng mỗi khi có dịp.

Theo bản tin Jakarta Post, Hiệp Hội Du Lịch Indonesia, cơ sở ở thành phố Batam đã phản đối quyết định đóng cửa trại Galang cũ của nhà cầm quyền trung ương. Họ coi đây là địa điểm hấp dẫn du lịch cho cả người trong và ngoài nước.

“Ðóng cửa trại tị nạn cũ cũng đồng nghĩa với việc hạ lương của người làm dịch vụ du lịch ở đây”. Kamsa Bakri, chủ tịch hiệp hội nói với báo Jakarta Post. “Chính phủ nên mở rộng ra thay vì đóng lại, vì nó phục vụ lợi ích của du khách nội địa và ngoại quốc”.

Ông cho hay thêm là hiệp hội của ông chống lại quyết định của chính phủ trung ương. Nếu làm như vậy, du khách sẽ giảm thời gian lưu lại tỉnh này.

Trước đây, do áp lực của nhà cầm quyền Hà Nội, chính phủ Jakarta cũng đã áp lực phá bỏ đài kỷ niệm thuyền nhân dựng ở trại Galang, từng gây phản ứng mạnh mẽ cho các người có thời gian tạm cư ở trại.

Bà Nada Faza Soraya, chủ tịch phòng thương mại thành phố Batam cho hay cơ quan của bà hy vọng chính phủ và các bên liên quan nhìn nhận lợi ích quan trọng và khác nhau của du khách nội địa cũng như ngoại quốc.

“Chúng tôi không can thiệp vào các vấn đề chính trị của quốc gia. Ðối với chúng tôi, trại tị nạn cũ chỉ có lợi điểm là một nơi du lịch hấp dẫn bất thường.” Bà nói, “Tôi tin địa điểm hoàn toàn có giá trị lịch sử và nhân đạo.”

Còn phát ngôn viên của Sở Phát Triển Kỹ Nghệ thành phố Batam, Dwi Djoko Wiwoho, nói với báo Jakarta Post rằng trại tị nạn cũ sẽ chỉ là nơi hạn chế trong phạm vi thăm viếng công cộng chứ không phải là nơi được quảng bá làm địa điểm du lịch.

“Có sự đả kích của nhà cầm quyền CSVN đối với trại tị nạn cũ”. Ông ta nói, “Bước đầu đáp ứng lại sự đả kích là sẽ không được gọi đó là trại tị nạn Việt Nam cũ. Nó chỉ được gọi là trại tị nạn mà thôi.”

Dwi từ chối không cho biết khi nào thì trại tị nạn Galang cũ sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Ðến nay nó đã gần 30 tuổi.

Sau khi chính phủ Indonesia quyết định đóng cửa vĩnh viễn và không tiếp nhận thêm người tị nạn, trại tạm cư Galang được trao cho nhà cầm quyền địa phương quản trị năm 1997 và nó được bảo trì, gìn giữ cẩn thận từ đó đến nay.

Người tị nạn Cộng Sản từ Việt Nam sau khi vượt biên bằng đường biển, tùy cơ hội đã đến được nhiều nơi khác nhau từ Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân và Hongkong.

Trong một bản tin, Tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam kêu gọi cộng đồng người Việt khắp nơi phản ứng.

“Tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) kêu gọi tất cả các hội đoàn đoàn thể trong cộng đồng người việt hải ngoại, giới truyền thông hải ngoại và người Việt yêu Tự Do-Dân Chủ trong nước:

1. Mỗi nơi dựng lên một tượng đài (Monument) vừa bày tỏ ý nghĩa tưởng niệm đối với nửa triệu người tị nạn Việt Nam đã bỏ mình trên hành trình tìm tự do dân chủ đồng thời cũng để bày tỏ lòng tri ân của mình đối với chính quyền sở tại và tấm lòng nhân đạo của thế giới đã cưu mang chúng ta tại đệ tam quốc gia.

2. Ðồng bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với cơ quan BIDA, Phòng Thương Mại và Hiệp Hội các Công Ty Du Lịch tại Batam qua hình thức email, viết báo, gọi điện thoại trực tiếp để ủng hộ những tổ chức này trong việc gìn giữ và bảo tồn di tích trại tỵ nạn Galang.

3. Liên tục liên kết sự kiện Hà Nội áp lực Indoensia dẹp bỏ trại Galang vào:

a. Tất cả các hoạt động đấu tranh lên án Hà Nội đàn áp dân chủ tự do, tôn giáo, bắt bớ các nhà đấu tranh cho tự do, nhân quyền.

b. Liên kết vào việc vận động và đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.

c. Liên kết đến sự kiện dâng cống biên giới, hải phận, hải đảo cho Tàu Cộng.

d. Liên kết với sự kiện lột mặt nạ giả trá khủng bố giết người của Hồ Chí Minh, đảng CS Việt Nam và tập đoàn tay sai Thái Thú Bắc Kinh tại Hà Nội.

Tổ chức VKTNVN sẽ nỗ lực tiếp xúc với các giới chức khác nhau của Indonesia, với Cao Ủy Tị Nạn LHQ và với UNESCO để yêu cầu bảo tồn khu di tích này.”

Ngoài các cá nhân hay gia đình tổ chức riêng tư quay lại trại tị nạn Galang, tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam từng tổ chức một số chuyến đi thăm tập thể và làm lễ cầu siêu cho các nạn nhân chết mất xác trên biển.



1-8-2009

Trên ba vạn rưởi lao động TQ ở VN

Báo trong nước trích nguồn từ Bộ Công an cho hay hiện có trên 35.000 lao động người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cục trưởng Cục Công tác chính trị, Tổng cục Xây dựng lực lượng thuộc Bộ Công an nói số lao động này tập trung ở "ở một số địa bàn trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và miền Trung".

Gần đây dư luận và báo chí trong nước bắt đầu nói nhiều tới hiện tượng lao động phổ thông ồ ạt vào Việt Nam, với con số được ước tính có thể lên tới hàng vạn.

Tuy nhiên đây là lần đầu tiên cơ quan an ninh chính thức xác nhận con số lớn lao động Trung Quốc.

Một lý do đông lao động Trung Quốc được nói là nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... về tay nhà thầu Trung Quốc. Các công ty này thường mang công nhân của họ vào Việt Nam, mỗi công trình có thể lên tới hàng nghìn người.

Thiếu tướng Đặng Thái Giáp cũng được trích lời nói "tình hình lao động TQ, nhất là số lao động phổ thông, tự phát nhập cảnh vào VN với nhiều lý do khác nhau như du lịch, thăm thân... rồi tìm cách gia hạn để cư trú trái phép, làm ăn lâu dài tại VN có xu hướng ngày càng gia tăng và khá phức tạp'.

Ông Giáp cũng thừa nhận con số trên chỉ là thống kê chính thức từ các doanh nghiệp được quản lý theo dõi "còn trên thực tế vẫn có một số lao động chui chưa thể thống kê hết".

Công tác quản lý lao động nước ngoài tại các địa phương bị nhận xét là còn "buông lỏng và thiếu hiệu quả".

Đã có nhiều trường hợp lao động TQ xô xát, ẩu đả với người Việt ở địa phương.

Chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế.

Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.

Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang đối diện nạn thất nghiệp gia tăng, một báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.