31-12-2010

Tu sinh theo thiền sư Nhất Hạnh rời khỏi chùa Phước Huệ

Các tu sinh theo thiền sư Thích Nhất Hạnh đã rời khỏi chùa Phước Huệ theo hạn chót mà chính quyền Việt Nam đề ra.
Hãng thông tấn Pháp – AFP – trích lời Thượng tọa Thích Thái Thuận cho hay khoảng 200 tu sinh đã rời khỏi chùa tối hôm 29-12.

Sư cô Biểu Nghiêm, một trong số 200 tăng sinh tá túc tại chùa Phước Huệ sau khi bị trục xuất khỏi Tu viện Bát Nhã hồi cuối tháng 9, cho biết tình hình tại chùa Phước Huệ hiện nay:
“Mấy hôm nay công an vẫn canh ngoài cửa và chúng em làm gì thì họ vẫn biết hết. Chúng em đi ra ngoài in đồ thì công an tới dọa nhà in đó rằng không được in cho mấy sư cô, nếu không sẽ bị tịch thu giấy phép kinh doanh và phạt 50 triệu. Công an cũng vẫn đến chùa kiểm tra lưu trú. Những người công an đó hôm trước họ mặc thường phục đi cùng với những người tới quấy phá tại chùa Phước Huệ.
Đến bây giờ thì mọi người (tăng sinh) đang đi về dần dần. Chỉ còn lại khoảng mười mấy người thôi. Mỗi người tự đi về địa phương của mình. Em cũng vừa rời chùa hồi chiều, hiện đang ở trên xe đi về nhà.”
Đây là những tu sinh cuối cùng phải rời khỏi nơi tu tập sau khi bị gây nhiều áp lực mà Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch mô tả là mưu toan của chính phủ nhằm giải tán cộng đồng các tăng ni này.

Human Rights Watch cũng cho rằng việc gây áp lực đối với tu sinh theo Pháp môn Làng Mai “rõ ràng là có liên hệ với lời kêu gọi cải cách tự do tôn giáo của Thiền sư Nhất Hạnh".
Hồi đầu tháng 12, một nhóm khoảng 100 người đã tới chùa Phước Huệ để buộc Thượng tọa Thích Thái Thuận phải ký vào một biên bản yêu cầu các tăng ni này rời khỏi chùa trễ nhất là vào ngày 31/12.

Cách nay khoảng gần hai tuần, đại diện của các tu sinh này đã xin chính phủ Pháp cho họ được tạm thời tị nạn vì họ không còn cảm thấy an toàn ở Việt Nam.
Tháng trước Tu sĩ Trung Hải, hiện đang ở Thụy Sĩ, người đại diện nhóm các tăng ni, nói rằng đối với giới hữu trách thì họ là những người bất hợp pháp.
Thượng tọa chùa Phước Huệ cho hay ông không có thông tin chi tiết về việc các tăng ni xin tị nạn, nhưng ông được biết khoảng 20 tu sinh đã đi sang Thái Lan hoặc Pháp.


31-12-2010

Việt Nam phản đối 'Luật Bảo vệ Hải đảo' của TQ

Việt Nam lên tiếng phản đối việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua “Luật Bảo vệ Hải đảo” hôm 26-12.
Bản tin hôm thứ Tư của hãng thông tấn Đức DPA trích lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam bà Nguyễn Phương Nga nói rằng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Bà Nga nói thêm “mọi hoạt động của các nước khác, bao gồm việc ban hành các quy định pháp lý liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông là hoàn toàn không có giá trị pháp lý.”

Theo luật mới này, Trung Quốc sẽ tăng cường bảo vệ hệ thống sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững các hòn đảo mà họ tuyên bố chủ quyền.
Đạo luật mới của Trung Quốc cấm tất cả các dự án xây dựng, các hoạt động du lịch trên các hòn đảo không người ở cũng như các hoạt động có thể hủy hoại các rặng san hô.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn 6.900 hòn đảo, mỗi đảo có diện tích khoảng 500m2 và hơn 10.000 đảo nhỏ hơn, trong đó có các đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã ký kết Tuyên Bố về cách Ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002, trong đó các bên cam kết tự kiềm chế, không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp hay leo thang tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, bao gồm cả việc không chiếm đóng các hải đảo, và những bãi đá ngầm hiện chưa có người ở; giải quyết các bất đồng trên tinh thần xây dựng cũng như tôn trọng quyền tự do hàng hải.


31-12-2010

Hoa Kỳ phản đối vụ xử ông Trần Anh Kim

Bộ Ngoại giao Mỹ hôm thứ Ba lên tiếng về bản án đưa ra hôm thứ Hai đối với cựu Trung tá Trần Anh Kim về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Nữ phát ngôn viên Julie Reside của bộ này cho đài VOA biết như sau: "Hoa Kỳ thất vọng trước kết quả vụ xử ông Trần Anh Kim, bị bắt hồi tháng 7 vừa qua vì có liên hệ đến các hoạt động ủng hộ dân chủ.

Việc bắt giam và phạt ông với bản án 5 năm rưỡi tù, cộng với 3 năm quản chế, đi ngược với các quyền phổ quát về tự do phát biểu và tiếp tục tạo ra những quan tâm về tình hình nhân quyền đang xuống cấp tại Việt Nam.

Ở mọi cấp, Hoa Kỳ đã liên tục kêu gọi chính phủ Việt Nam đảm bảo quyền tự do phát biểu có tính cách phổ quát. Trong cuộc đối thoại nhân quyền mới đây vào tháng 11, Hoa Kỳ một lần nữa đã trình bày các quan tâm về trường hợp của ông Kim và của trên 20 nhân vật bất đồng chính kiến khác bị kêu án trong năm vừa qua."


31-12-2010

'Ở VN, bảo vệ công nhân là chống lại chính quyền'

Quyền và cách thức bảo vệ quyền chính đáng của người lao động Việt Nam trong và ngoài nước là một trong những quan tâm chính yếu tại Hội Thảo lần thứ nhì, do Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Ðộng Việt Nam (UBBV) tổ chức tại Kuala Lumpur trong hai ngày 28 và 29 Tháng Mười Hai, 2009.
Hội thảo được tổ chức tại Kuala Lumpur vì, Malaysia, theo lời UBBV, “có trên dưới 100 ngàn người lao động đến từ Việt Nam.”

Một trong những khó khăn chính yếu, theo phân tích của hội thảo, là vì “người lao động không có thông tin và không thông hiểu về Luật Lao Ðộng.”
Tham gia hội thảo, ông Rajasekaran, tổng thư ký Tổng Công Ðoàn Malaysia đã giải đáp nhiều thắc mắc rất thực tế của người lao động Việt Nam cũng như của UBBV.
Thắc mắc lớn nhất là, liệu việc giới chủ thu giữ passport của người lao động có hợp lệ hay không? Và công nhân nước ngoài có quyền tham gia công đoàn Malaysia hay không?

Ông Rajasekaran nói rằng, “Luật Lao Ðộng Malaysia áp dụng cho mọi công nhân, trừ người làm nghề giúp việc. Luật không đề cập đến mức lương tối thiểu, nhưng cho phép tranh tụng nếu hợp đồng lao động bị vi phạm.”
Tuy nhiên, ông Rajasekaran nhấn mạnh, rằng “hợp đồng lao động ký kết bên ngoài lãnh thổ Malaysia sẽ không có hiệu lực bên trong quốc gia này.” Và trong trường hợp các mâu thuẫn không được giải quyết, công nhân phải trở về nước.

Liên quan đến tình trạng giới chủ giữ passport của công nhân Việt Nam, ông Rajasekaran thừa nhận, chuyện này “có thật, và vẫn đang xảy ra.” Ông nói, các hợp đồng lao động giữa giới chủ với công nhân thường ghi thêm ý: công nhân “nhờ” người chủ giữ giúp passport. Một khi hợp đồng lao động được ký kết, hành động giữ passport là không sai luật.

Về việc gia nhập công đoàn, ông Rajasekaran nói, ngay chính nội bộ chính phủ Malaysia cũng có những quan niệm mâu thuẫn liên quan đến việc công nhân ngoại quốc gia nhập công đoàn Malaysia. Bộ Lao Ðộng nước này nói rằng mọi công nhân có quyền gia nhập công đoàn; nhưng Bộ Nội Vụ thì không đồng ý.

Trên thực tế, khi công nhân Việt Nam gia nhập công đoàn, họ sẽ bị chủ đuổi việc, vì “vi phạm hợp đồng lao động.”
Tất cả những vấn đề của công nhân ngoại quốc tại Malaysia không thể giải quyết đơn phương, từ giới chủ hoặc từ giới công nhân. Theo ông Rajasekaran, điều quan trọng là chính phủ các quốc gia có công nhân lao động tại Malaysia phải “tích cực hơn.” Chẳng hạn, ông nói rằng, Luật Lao Ðộng Malaysia không áp dụng cho người làm nghề giúp việc, tất cả mọi “osin” đều làm việc 7 ngày một tuần, riêng “osin” Philippines làm việc 6 ngày một tuần, do kết quả vận động của chính phủ Philippines.

Một số ý kiến phân tích nói rằng, việc chú ý nhiều hơn đến thị trường lao động Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng, vì “nhiều công ty đang chuyển dần hãng xưởng vào thị trường này.”

Tham dự hội thảo còn có ông Bent Gehrt, giám đốc khu vực Ðông Nam Á của tổ chức Worker Rights Consortium (WRC), đại diện cho 186 trường đại học Hoa Kỳ và Canada. Trách nhiệm của WRC nhằm bảo đảm mọi sản phẩm được sản xuất ở nước ngoài, mang vào bán trong các đại học Hoa Kỳ và Canada, phải đáp ứng “nguyên tắc hành xử có đạo đức.”
Theo ông Gehrt, tổ chức của ông theo dõi sản phẩm của khoảng 3 ngàn hãng xưởng khắp thế giới, trong đó có 140 hãng xưởng bên trong Việt Nam. Trong điều kiện này, công việc của WRC đối với Việt Nam là một “thử thách lớn.”
Ông Bent Gehrt nói rằng nhiều công ty đang chuyển dần vào Việt Nam, vì tại đây, họ “không phải đối mặt với công đoàn độc lập.”
“Chúng tôi cần tìm hiểu về công nhân Việt Nam, phải biết điều kiện lao động thật sự bên trong Việt Nam.”

Trong ngày hội thảo thứ nhì, đại diện lao động đến từ Việt Nam, yêu cầu không nêu danh tánh, cho biết hiện có một số thành viên thuộc Phong Trào Lao Ðộng Việt đang hoạt động bên trong Việt Nam. Tuy nhiên, “khó khăn lớn nhất, cả trong và ngoài nước, là thiếu ngân sách.”
Một số chương trình khác cũng được Phong Trào Lao Ðộng Việt thực hiện, nhưng vì lý do an ninh, UBBV yêu cầu không phổ biến.

Ðại diện công nhân Việt Nam nhận xét, rằng sự an toàn của thành viên tại Việt Nam là điều hết sức quan trọng. Công nhân không biết luật, người bảo vệ công nhân cần phải biết luật nhiều hơn. Thực tế, tại Việt Nam, nhiều người “thấy công an đã sợ rồi.”
“Tại Việt Nam, bảo vệ người lao động thì bị coi là chống lại chính quyền.”

Một người lao động từ Việt Nam, có mặt trong buổi hội thảo, nói với Người Việt, rằng, “công đoàn đã và vẫn đang là một ‘công cụ,’ đại diện cho quyền lợi giới chủ và, gián tiếp hơn, quyền lợi của chính quyền. Ở Việt Nam, công đoàn chưa bao giờ là người đại diện cho quyền lợi công nhân.”

Trả lời câu hỏi của Người Việt, về hiện tượng đình công, biểu tình giảm thiểu rất nhiều so với các năm trước, đại diện từ Việt Nam nói rằng, “có thể giải thích bằng nhiều lý do khác nhau.” Một trong những lý do là vì giới chủ “áp dụng những chiêu thức tinh vi hơn, gây chia rẽ công nhân nhiều hơn.” Cũng có nhận xét cho rằng, công nhân Việt Nam, đa số là người từ vùng nông thôn, “có quan niệm khá khép kín về quyền lợi, và dễ thỏa mãn.”

Theo quan sát, yếu tố “quyền lợi” luôn là phương pháp tốt nhất để cô lập, khi cần. Chẳng hạn, một công nhân giỏi, có uy tín với đồng nghiệp, sẽ mau chóng được thăng thưởng, và từ đó bị tách ra khỏi tập thể công nhân. Và phần lớn trong số họ, cũng mau chóng không kém, được học cách để “trừng trị” các công nhân khác. Mặc dầu báo chí trong nước không đề cập đến, đã và đang có hiện tượng, “nhiều quản lý bị công nhân đánh tập thể.”

Nhận định về Luật Lao Ðộng của Việt Nam, người đại diện từ trong nước cho rằng, luật Việt Nam là để “bảo vệ giới chủ, trong khi quyền lợi công nhân chỉ được đề cập bằng những lời lẽ hoa mỹ nhưng thiếu thực chất.”

Các tranh chấp giữa công nhân và giới chủ không phải là những mâu thuẫn không dính dáng đến chính quyền. Trong các tranh chấp này, chính quyền địa phương luôn đứng về phía giới chủ. Ðơn giản vì “quyền lợi của chính quyền song hành với quyền lợi giới chủ.”

Ngày thứ nhì của hội thảo tập trung vào việc sửa đổi Bản Ðiều Lệ của UBBV, bầu Ban Chấp Hành mới, và đề ra chương trình hoạt động cụ thể cho tương lai. Ông Trần Ngọc Thành được ủy ban lưu nhiệm vị trí chủ tịch thêm nhiệm kỳ 3 năm. Các vị trí Phó Chủ Tịch Nội Vụ gồm có: ông Chu Văn Cương (đặc trách Nhiệm Khu Hoa Kỳ), ông Nguyễn Hưng Ðạo (đặc trách Nhiệm Khu Úc Châu), bà Ca Dao (đặc trách Nhiệm Khu Tây Âu). Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đảm nhiệm vị trí Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ. Ông Nguyễn Ðình Hùng được bầu vào vị trí Phó Chủ Tịch Kế Hoạch. Ông Ðoàn Việt Trung tiếp tục được lưu nhiệm vị trí Tổng Thư Ký. Ông Phạm Lê Hoàng Nam được bầu vào vị trí Phó Tổng Thư Ký. Vị trí Thủ Quỹ của UBBV do bà Jackie Bong-Wright đảm trách. Ủy Ban Yểm Trợ Giám Sát gồm các vị Bùi Trọng Cường, Ðào Thị Hợi, Nguyễn Văn Tánh.